• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

Chiều ngày 25/11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến các vị đại biểu Quốc hội và rà soát, chỉnh lý vào các điều, khoản cụ thể của dự thảo Luật.

Kết quả biểu quyết cho thấy: có 426/454 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 88,20% tổng số đại biểu Quốc hội. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nêu rõ, với đa số đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hội chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Luật có bố cục gồm 3 Điều. Điều 1 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức; Điều 2 quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Viên chức; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành.

Tại Điều 1, về chính sách đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ, Luật quy định Nhà nước có chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng; Chính phủ quy định khung chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ. Đồng thời, căn cứ vào quy định của Chính phủ, người đứng đầu cơ quan quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 39 của Luật này quyết định chế độ trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do tỉnh quản lý.

Liên quan đến xếp loại chất lượng cán bộ, Luật quy định, căn cứ vào kết quả đánh giá, cán bộ được xếp loại chất lượng theo các mức: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ; không hoàn thành nhiệm vụ. Kết quả xếp loại chất lượng cán bộ được lưu vào hồ sơ cán bộ, thông báo đến cán bộ được đánh giá và công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ công tác. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền miễn nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ đối với cán bộ có 02 năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ.

Về phương thức tuyển dụng công chức, Luật nêu rõ: việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. Hình thức, nội dung thi tuyển, xét tuyển công chức phải phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm trong từng ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực. Việc tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức đối với từng nhóm đối tượng.

Ngoài hình thức tuyển dụng thông qua thi tuyển và xét tuyển, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quyết định tiếp nhận người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm vào làm công chức đối với trường hợp: viên chức công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập; cán bộ, công chức cấp xã; người hưởng lương trong lực lượng vũ trang nhân dân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu nhưng không phải là công chức; tiếp nhận để bổ nhiệm làm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với người đang là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Thành viên Hội đồng thành viên, Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và chức vụ, chức danh quản lý khác theo quy định của Chính phủ trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; người được tiếp nhận phải được quy hoạch vào chức vụ bổ nhiệm hoặc chức vụ tương đương; người đã từng là cán bộ, công chức sau đó được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển giữ các vị trí công tác không phải là cán bộ, công chức tại các cơ quan, tổ chức khác.

Tại Điều 2, Luật nêu rõ: Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại khoản 2 Điều này đối với từng lĩnh vực sự nghiệp; việc chuyển đổi đơn vị sự nghiệp sang mô hình doanh nghiệp, trừ đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế và giáo dục; chế độ quản lý đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo nguyên tắc bảo đảm tinh gọn, hiệu quả.

Luật cũng quy định cụ thể các loại hợp đồng làm việc. Trong đó, hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 60 tháng, áp dụng đối với người được tuyển dụng làm viên chức kể từ ngày 01/7/2020, trừ trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này.  Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng, áp dụng đối với trường hợp viên chức được tuyển dụng trước ngày 01/7/2020; cán bộ, công chức chuyển sang làm viên chức theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 58 của Luật này; người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đối với hợp đồng làm việc xác định thời hạn, trước khi hết hạn hợp đồng làm việc 60 ngày, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký kết tiếp hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức. Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập còn nhu cầu, viên chức đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải ký kết tiếp hợp đồng làm việc với viên chức. Trường hợp không ký tiếp hợp đồng làm việc đối với viên chức thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải nêu rõ lý do bằng văn bản.

Để đảm bảo tính khả thi, Luật quy định rõ các tiêu chí để đánh giá viên chức, gồm: chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao; tiến độ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí việc làm, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể; việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp; tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần hợp tác với đồng nghiệp và việc thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức; việc thực hiện các nghĩa vụ khác của viên chức.

Ngoài ra, viên chức quản lý còn được đánh giá theo năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; kế hoạch làm việc theo năm, quý, tháng và kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của cá nhân phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao phụ trách. Mức xếp loại chất lượng của cá nhân không cao hơn mức xếp loại chất lượng của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp phụ trách.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2020./.

Kim Chi (Cổng TTĐT Quốc hội)

 

Từ 01/01/2020, tăng lương tối thiểu từ 150.000 - 240.000 đồng

Thủ tướng Chính phủ vừa ký ban hành Nghị định 90/2019/NĐ-CP ngày 15/11/2019 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Nhiều điểm mới trong Bô luật Lao động (sửa đổi) năm 2019

Theo đó, từ 01/01/2020, người lao động làm việc ở các doanh nghiệp theo chế độ hợp đồng lao động sẽ được tăng lương tối thiểu từ 150.000 đến 240.000 đồng. Cụ thể:

- Vùng 1 tăng từ 4.180.000 đồng lên 4.420.000 đồng/tháng;

- Vùng 2 tăng từ 3.710.000 đồng lên 3.920.000 đồng/tháng;

- Vùng 3 tăng từ 3.250.000 đồng lên 3.430.000 đồng/tháng;

- Vùng 4 tăng từ 2.920.000 đồng lên 3.070.000 đồng/tháng.

Cũng theo Nghị định90/2019/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm (1) Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất; (2) Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề.

Đặc biệt, Nghị định90/2019/NĐ-CPcũng quy định, khi thực hiện mức lương tối thiểu vùng, doanh nghiệp không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh nghề nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Các khoản phụ cấp, bổ sung khác, trợ cấp, tiền thưởng do doanh nghiệp quy định thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp.

TRÍ DŨNG

16 điểm mới trong Bộ Luật Lao động (sửa đổi) vừa được thông qua, người lao động cần biết

Sáng ngày 20/11/2019, với 90,06% đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật Lao động (sửa đổi) năm 2019. Với gồm 17 chương, 220 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021, trong đó có 16 điểm mới đối với người lao động và người sử dụng lao động.

Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIV vừa thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi)

Có 10 điểm mới đối với người lao động gồm:

Thứ nhất: Lần đầu tiên mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ Luật Lao động đối với người làm việc không có quan hệ lao động về một số tiêu chuẩn lao động.

Thứ hai: Quy định về nguyên tắc nhằm bảo đảm quyền của các tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong đối thoại, thương lượng, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

Thứ ba: Chế định về hợp đồng lao động quy định theo hướng bảo vệ tốt hơn đối với người lao động như: Quy định hợp đồng lao động là sự thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương...

Đồng thời, bổ sung quy định để nâng cao nhận diện về hợp đồng lao động; quy định hình thức giao kết hợp đồng lao động thông qua phương tiện điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản; người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do mà chỉ cần báo trước theo thời hạn quy định tương ứng với các loại hợp đồng lao động;

Quy định linh hoạt về thử việc bằng việc thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng thử việc; được quyền yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của mình khi chấm dứt hợp đồng lao động và các chi phí của việc cung cấp này do người sử dụng lao động trả...

Thứ tư: Quy định cụ thể về các trường hợp được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong 1 năm nhằm bảo đảm quyền lợi lâu dài cho người lao động; bổ sung một ngày nghỉ hưởng nguyên lương đối với người lao động liền kề với Ngày Quốc khánh 2-9; bổ sung thêm trường hợp người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương.

Thứ năm: Quy định điều chỉnh nâng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình nhằm chuẩn bị, ứng phó với quá trình già hóa dân số, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Thứ sáu: Quy định mở rộng phạm vi áp dụng của thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể nhiều doanh nghiệp nhằm khuyến khích áp dụng các thỏa thuận có lợi hơn đối với người lao động.

Thứ bảy: Quy định cụ thể hơn về cơ chế nhằm bảo vệ tốt hơn cho lao động chưa thành niên.

Thứ tám: Về những quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới đã được thay đổi về quan điểm tiếp cận bảo đảm quyền việc làm, quyền lao động của lao động nữ thay vì quy định hạn chế như Bộ Luật Lao động hiện hành nhằm vừa tạo điều kiện mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nữ mà vẫn bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn về lao động;

Bổ sung quy định trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới...

Thứ chín, Quy định thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp không thuộc tổ chức Công đoàn Việt Nam nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong quan hệ lao động, phù hợp với các Công ước của ILO, các cam kết quốc tế khác và tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập quốc tế.

Thứ mười, Quy định linh hoạt hơn quyền lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp lao động sau khi tiến hành thủ tục hòa giải, không quy định sự can thiệp, giải quyết hành chính của nhà nước đối với giải quyết tranh chấp lao động.

Bổ sung các trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể yêu cầu đúng thời hạn thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về lao động - thương binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân là đầu mối tiếp nhận các yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động, có trách nhiệm phân loại, hướng dẫn hỗ trợ và giúp đỡ các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào tiền lương doanh nghiệp

Có 6 điểm mới đối với người sử dụng lao động gồm:

Thứ nhất: Lần đầu tiên luật hóa vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và tham gia xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động khác.

Thứ hai: Mở rộng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động; người sử dụng lao động được quyền ký kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn đối với lao động cao tuổi và lao động là người nước ngoài.

Thứ ba: Về tiền lương, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp, tiền lương được thực hiện trên cơ sở thương lượng, thoả thuận giữa các bên; doanh nghiệp chủ động trong việc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động; bổ sung quy định trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận.

Thứ tư: Quy định đối thoại định kỳ tại doanh nghiệp được nâng lên 1 năm một lần.

Thứ năm: Quy định linh hoạt về đăng ký nội quy lao động bằng việc có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Thứ sáu: Các quy định về giải quyết tranh chấp lao động linh hoạt hơn tạo thuận lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động.

KC (Nguồn: NLĐO)

Khai trương Cửa hàng tiện ích trong chương trình “Phúc lợi cho đoàn viên công đoàn”

Ngày 08/11/2019, tại xã Hiếu Trung, huyện Tiểu Cần, Công ty CP Golden Asia Food (Tập đoàn Đại Hàn Kim) tổ chức khai trương Cửa hàng tiện ích trong chương trình “Phúc lợi cho đoàn viên công đoàn”. Đồng chí Nguyễn Thành Tâm, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Dân vận, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Trà Vinh, đồng chí Thạch Thị Thu Hà, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh đến dự.

Đ/c Thạch Thị Thu Hà, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh và ông Lê Văn Vũ, Chủ tịch Tập đoàn Đại Hàn Kim cắt băng khai trương Cửa hàng tiện ích

Việc khai trương Cửa hàng tiện ích trong chương trình “Phúc lợi cho đoàn viên công đoàn” là hoạt động nằm trong kế hoạch thỏa thuận hợp tác triển khai chương trình “Phúc lợi người lao động” giữa Liên đoàn Lao động tỉnh với Công ty CP Golden Asia Food. Tại đây, Công ty CP Golden Asia Food cam kết các sản phẩm của Cửa hàng đảm bảo chất lượng hàng hóa, nguồn gốc xuất sứ. Đặc biệt, người lao động là đoàn viên công đoàn khi mua các sản phẩm tại Cửa hàng sẽ được giảm giá từ 3 đến 10% tùy mặt hàng và thời điểm.

Tại lễ khai trương, ông Lê Văn Vũ, Chủ tịch Tập đoàn Đại Hàn Kim đã giới thiệu sơ lược về tổng quan, quy mô của Tập đoàn cũng như những dịch vụ, sản phẩm do Tập đoàn đang cung cấp trên thị trường như: thực phẩm, chuỗi siêu thị đa dạng các mặt hàng nhu yếu phẩm, đặc biệt Tập đoàn chuyên cung cấp suất ăn tập thể cho cán bộ công nhân ở các nhà máy, xí nghiệp, công ty, văn phòng, trường học có dịch vụ phục vụ tận nơi khi có yêu cầu… Đại diện Tập đoàn Đại Hàn Kim cũng cho biết, đến nay đã triển khai chuổi cửa hàng tại 20 tỉnh, thành phố trong cả nước với giá ưu đãi đặc biệt cho đoàn viên công đoàn, người lao động.

Đại biểu tham quan cửa hàng

    Việc khai trương Cửa hàng tiện ích trong chương trình “Phúc lợi cho đoàn viên công đoàn” hứa hẹn trong thời gian tới mang lại nhiều lợi ích thiết thực, có ý nghĩa đối với đoàn viên, người lao động, nhất là công nhân lao động Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong (gần cửa hàng).

Tin, ảnh; TRÍ DŨNG

Đề xuất giảm thời giờ làm việc của người lao động: Bài 1: Phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và tiến trình hội nhập

Đề xuất giảm thời giờ làm việc của người lao động:

Bài 1: Phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và tiến trình hội nhập

 

Tổng LĐLĐ Việt Nam trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ nhiều nguồn khác nhau đã chính thức đề xuất giảm thời giờ làm việc cho người lao động (NLĐ) từ“48 giờ trong một tuần” xuống “44 giờ trong một tuần” và “không tăng thời giờ làm thêm” trong dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi).

Để có căn cứ cho đề xuất này, Tổng LĐLĐ Việt Nam đã tham vấn số liệu khảo sát của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cho thấy, Việt Nam thuộc nhóm nước có thời giờ làm việc cao nhất thế giới (từ 48 giờ/ tuần trở lên) cùng với khoảng hơn 40 nước khác.

Người lao động Việt Nam nằm trong nhóm nước có số ngày nghỉ phép năm khởi điểm ít nhất thế giới . Ảnh Văn Khởi

Về thời gian nghỉ phép: Trong số 155 nước khảo sát, thì Việt Nam nằm trong nhóm nước có số ngày nghỉ phép năm khởi điểm ít nhất thế giới (12 ngày), ngang bằng với 8 nước; nhiều hơn 31 nước; và ít hơn 110 nước.

Về giờ làm việc trung bình thực tế trong năm, Việt Nam cũng là nước thuộc nhóm có số giờ làm việc thực tế cao nhất thế giới, xếp thứ 3 với số giờ làm việc trung bình năm là trên 2.339 giờ, cao hơn 60/63 quốc gia được khảo sát.

Về ngày nghỉ lễ:Hiện số ngày nghỉ lễ, tết của Việt Nam ở mức thấp so với các quốc gia trên thế giới và khu vực (Camphuchia là 28 ngày, Brunei là 15 ngày, Indonexia là 16 ngày, Malaysia là 13 ngày, Myanmar là 21 ngày, Philippines là 19 ngày, Thái Lan là 16 ngày, Trung Quốc 21 ngày, Nhật Bản 16 ngày.

Về giờ làm thêm: Việt Nam ở mức trung bình của thế giới. Nhưng hiện tượng vi phạm giờ làm thêm ở Việt Nam khá phổ biến. Có 39,5% doanh nghiệp không thực hiện đúng về số giờ làm thêm của NLĐ[1]; thậm chí, 82% trong tổng số 257 nhà máy có làm thêm giờ vượt quá quy định của pháp luật[2].

Các văn kiện của ILO cũng khuyến khích các quốc gia thành viên (trong đó có Việt Nam) nỗ lực giảm giờ làm cho mọi loại hình công việc “tuần làm việc 40 giờ”[3]. ILO tuyên bố: với tinh thần là thực hiện hiệu quả việc học tập suốt đời và giáo dục chất lượng cho mọi người; an sinh xã hội đầy đủ và bền vững; tôn trọng các quyền cơ bản của NLĐ; mức lương đủ sống; hạn chế số giờ làm việc tối đa; AT-VSLĐ tại nơi làm việc; khả năng đạt được cân bằng giữa công việc và cuộc sống tốt hơn[4].

Tổng LĐLĐ Việt Nam cũng đã trích dẫn các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước để chứng mình cho đề xuất của mình. Cụ thể: “Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; đảm bảo hài hoà lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân[5].Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra Tổ chức công đoàn cũng còn lúng túng trong nghiên cứu, dự báo, đề xuất giải pháp để khắc phục, nhất là những bức xúc về cường độ lao động, việc làm, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của công nhân, lao động”[6].

Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi” (Khoản 2 Điều 35).Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ” (Điều 104, Bộ luật Lao động 2012).

Sau 30 năm đổi mới, kinh tế - xã hội của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn,trở thành nước có thu nhập trung bình và yêu cầu thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về quyền con người, dân chủ và công bằng, rất cần thiết phải tham khảo quy định này để thiết kế về thời giờ làm việc cho số đông NLĐ. Đây là xu hướng tiến bộ trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất, đảm bảo tăng năng suất lao động, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp nhưng duy trì được sức khỏe, khả năng tái tạo sức lao động cũng như có thời gian chăm sóc gia đình và tham gia các hoạt động xã hội của NLĐ.

Trên cơ sở đó, Tổng LĐLĐ Việt Nam đã đề xuất Giảm thời giờ làm việc bình thường của người lao động từ“48 giờ trong một tuần” xuống “44 giờ trong một tuần” và kiến nghị Không tăng thời giờ làm thêm”.

Bài, ảnh: TRÍ DŨNG

Xem tiếp bài 2: Duy trì và đảm bảo sức khỏe của người lao động.

Chú dẫn


[1] Kết quả thanh tra lao động của Bộ LĐTBXH tại 152 doanh nghiệp ngành may mặc ngành 2015.

[2]Better WorkBáo cáo thường niên 2017: Báo cáo tổng hợp tuân thủ trong ngành may mặc.

[3] Công ước số 47 của Đại hội đồng ILO (năm 1935,) về tuần làm việc 40 giờ.

[4]Tuyên bố Thế kỷ về Tương lai Việc làm của ILO năm 2019”.

[5]Nghị quyết số 20 - NQ/TW ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành TW Đảng (khóa X) về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

[6] Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XII.

Hơn 50% lao động muốn nghỉ hưu sớm vì kiệt sức

Trong lúc Bộ luật Lao động (BLLĐ) sửa đổi theo hướng tăng tuổi nghỉ hưu, một khảo sát mới nhất cho thấy, có tới 50,7% người lao động (NLĐ) được hỏi không muốn tăng.

Khảo sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trên 1 triệu lao động tại các tỉnh, thành trên cả nước về việc tăng tuổi nghỉ hưu cho thấy, có 49,3% lao động được khảo sát đồng ý việc tăng tuổi nghỉ hưu ở một số nhóm đối tượng, 50,7% còn lại không đồng ý tăng tuổi nghỉ hưu vì cho rằng NLĐ cần được quyền nghỉ hưu sớm hơn.

Trên 50% NLĐ được hỏi đều không muốn tăng ca (trong ảnh, Công nhân Cty TNHH Thủy hải sản An Lạc). Đức Thành

Con số được công bố tại hội nghị phản biện xã hội dự luật BLLĐ sửa đổi dưới góc độ giới do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Tổng LĐLĐ Việt Nam tổ chức.

Chị Trần Thị Hường (40 tuổi), nhân viên thủy sản của một công ty sản xuất đồ hộp ở Hải Phòng cho biết, công việc của chị khá vất vả, ngoài việc phải lao động trong môi trường nóng, lạnh thất thường thì việc thường xuyên phải đứng làm ca kíp cũng rất nặng nhọc.

Chị chia sẻ, nhiều người trong công ty chị chỉ chờ đủ 20 năm đóng BHXH để xin nghỉ hưu do không đủ sức khoẻ để làm việc tiếp. "Công nhân nữ làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại chỉ 40 tuổi sức khoẻ đã giảm sút đi nhiều. Bản thân tôi cũng không phải ngoại lệ nên đủ thời gian đóng BHXH tôi cũng xin nghỉ hưu sớm", chị Hường nói.

Làm công nhân may mặc tại TP.HCM từ năm 20 tuổi, đến nay chị Vũ Thị Xuyên đã tham gia đóng BHXH được 18 năm. Chị chia sẻ, công nhân may mặc chân tay, mắt liên tục hoạt động từ 8-12h/ngày nên rất nặng nhọc. Nhiều hôm tăng ca xong ra khỏi xưởng là lưng đau, mắt mờ, toàn thân tê dại. Nhiều người trong công ty chưa đến tuổi 50 đã phải về hưu do không còn đảm bảo sức khoẻ để tiếp tục làm việc.

"Về hưu sớm mức hưởng rất thấp, nhưng nếu không về cũng không còn đảm bảo sức khoẻ để tiếp tục làm việc. Chúng tôi mong các nhà làm luật lắng nghe ý kiến của những NLĐ trực tiếp để có chính sách nghỉ hưu phù hợp", chị Xuyên nói.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho rằng, con số khảo sát cho thấy nên nghiên cứu điều chỉnh tuổi nghỉ hưu linh hoạt. Có những ngành nghề nặng nhọc, độc hại không chỉ nghỉ hưu sớm 5 năm mà còn là 10 năm so với quy định. 

Việc điều chỉnh tuổi hưu theo hướng linh hoạt là cần thiết và phù hợp, khi tiếp cận ở góc độ quyền và trách nhiệm của NLĐ cũng như các điều kiện, tính chất lao động theo các nhóm lao động khác nhau. Ngoài ra cũng cần phân định rõ việc tăng tuổi nghỉ hưu đối với khu vực công chức, viên chức và khu vực sản xuất kinh doanh.

Ông Mai Đức Chính, nguyên Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam cho hay, hiện nay các ngành sử dụng đông lao động như dệt may, điện tử, chế biến hải sản... đến 40 tuổi mắt mờ chân chậm, chủ sử dụng lao động chỉ muốn sa thải. Nếu kéo dài tuổi hưu, nhiều lao động phải chờ 15 - 20 năm nữa mới có thể được hưởng lương hưu. Thực tế này sẽ có rất nhiều người phải chọn cách hưởng chính sách trợ cấp một lần thay vì đợi đến tuổi nghỉ hưu.

Từ thực tế trên, ông Chính cho rằng, không nên áp dụng tăng tuổi nghỉ hưu với lao động trực tiếp. Với lao động gián tiếp phải áp dụng với từng ngành nghề cụ thể.

BAN BIÊN TẬP (Nguồn: Vietnamnet.vn)

Dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động 2012: Nhiều vấn đề người lao động băn khoăn

Bộ luật Lao động (BLLĐ) là văn bản pháp lý có ý nghĩa quan trọng đối với NLĐ. Vì vậy, Liên đoàn Lao động tỉnh (LĐLĐ) đã chỉ đạo các cấp Công đoàn tổ chức lấy ý kiến người lao động (NLĐ) bằng các kênh như: Khảo sát, thăm dò, tổ chức hội nghị, tư vấn, đối thoại trực tiếp… Kết quả cho thấy, có khá nhiều nội dung mà NLĐ còn băn khoăn, nhất là những vấn đề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động.

Những vấn đề NLĐ còn băn khoăn như: vấn đề mở rộng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ; mở rộng khung thỏa thuận về thời gian làm thêm; tuổi nghỉ hưu; vấn đề tiền lương; về tổ chức đại diện NLĐ…

Anh Nguyễn Kim Chương, Công ty TNHH may Hồng Việt phát biểu tại hội nghị tiếp xúc, đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với công nhân lao động năm 2019.

Theo dự thảo sửa đổi BLLĐ năm 2012, đề xuất mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ trong các trường hợp đặc biệt sẽ tăng lên 400 giờ/năm. Trong khi đó, BLLĐ hiện hành quy định số giờ làm thêm tối đa của NLĐ là không quá 50% số giờ làm việc bình thường/ngày, 30 giờ/tháng và tổng số không quá 200 giờ/năm, trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ/năm. Đề xuất này chưa nhận được sự đồng tình của số đông NLĐ. Tại hội nghị tiếp xúc, đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với công nhân lao động năm 2019, chị Thạch Thị Tố Quyên, Công ty TNHH BestMate (Tiểu Cần) không đồng tình: “Tôi có nghe thông tin các ngành đang lấy ý kiến tăng số giờ làm thêm tối đa lên 400 giờ/năm. Nếu như thế những NLĐ như chúng tôi không đảm bảo sức khỏe làm việc. Ngoài ra, cần dành nhiều thời gian hơn cho NLĐ chăm sóc gia đình, đi tham quan, du lịch. Vì vậy tôi đề nghị giữ nguyên như quy định hiện hành”.

Vấn đề tăng tuổi nghỉ hưu cũng được đông đảo NLĐ quan tâm. Chị Kim Thị NaVi, Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong cho biết, trong dự thảo sửa đổi BLLĐ năm 2012, thì đến năm 2021 sẽ tăng tuổi nghỉ hưu: Nam 62 tuổi, nữ 60 tuổi, nhưng đối với NLĐ làm việc giày da như chúng tôi thì đến độ tuổi này sẽ không ai có đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc. Cần thiết thì chỉ tăng tuổi nghỉ hưu của NLĐ ở những đối tượng, ngành, nghề phù hợp hơn như nhà khoa học, chuyên gia giỏi…

Trong qúa trình tổ chức lấy ý kiến NLĐ, các cấp Công đoàn cũng nhận được nhiều kiến nghị có liên quan như: Cần tăng thời gian nghỉ lễ, tết được hưởng nguyên lương vì theo quy định hiện hành, NLĐ được nghỉ 10 ngày là quá ít. Đồng thời kiến nghị Đảng, Nhà nước nên xem xét cho NLĐ là người dân tộc thiểu số được nghỉ tết cổ truyền của dân tộc mình và được hưởng nguyên lương (anh Lê Thanh Lam, Chi nhánh 3, Công ty TNHH Emma).

Ngoài những vần đề liên quan đến dự thảo sửa đổi BLLĐ năm 2012, trong quá trình lấy ý kiến của NLĐ, các cấp Công đoàn còn nhận được nhiều kiến nghị liên quan đến các văn bản khác. Cụ thể, anh Nguyễn Kim Chương, Công ty TNHH May Hồng Việt đề nghị xem xét điều chỉnh cách tính lương hưu lại vì theo cách tính hiện tại là rất thấp, rất thiệt thòi đối với NLĐ vì tính bình quân toàn bộ thời gian, trong khi NLĐ đóng theo mức lương tối thiểu vùng là mức thấp nhất, nhưng mức lương hưu thấp nhất lại là mức lương cơ sở (mức lương cơ sở chỉ bằng một nữa mức lương tối thiểu vùng thấp nhất.

Bà Thạch Thị Thu Hà, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh cho biết, việc các cấp Công đoàn tổ chức lấy ý kiến của NLĐ những nội dung dự thảo sửa đổi BLLĐ năm 2012 nhằm ghi nhận các ý kiến của số đông NLĐ, đồng thời qua đó giúp cho các cấp, các ngành nắm bắc tâm tư, nguyện vọng của NLĐ.

Bài, ảnh: TRÍ DŨNG

SmartNews.com

footer2

Switch mode views: