• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Nghị định 58/2020/NĐ-CP: Mức đóng BHXH bắt buộc vào Quỹ TNLĐ, BNN

Ngày 27/5/2020, Chính phủ ban hành Ngh định 58/2020/NĐ-CP quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2020và thay thế Nghị định số 44/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị định số 143/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội và Luật An toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Nghị định 58/2020/NĐ-CP có điểm mới là quy định Mức đóng bằng 0,3% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được áp dụng mức đóng bằng 0,3% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH nếu bảo đảm các điều kiện quy định chi tiết tại Điều 5”.

Dưới đây là các nội dung cơ bản của Mức đóng và phương thức đóng (hiện hành và mới theo Nghị định 58) vàoQuỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Nghị định số 44/2017/NĐ-CP

ngày 14/4/2017 của Chính phủ

(hết hiệu lực từ ngày 15/7/2020)

Nghị định số 58/2020/NĐ-CP

ngày 27/5/2020 của Chính phủ

(có hiệu lực từ ngày 15/7/2020)

* Người sử dụng lao động hằng tháng đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật an toàn, vệ sinh lao động với mức như sau:

0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp lao động là người giúp việc gia đình.

0,5% trên mức lương cơ sở đối với người lao động được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội.

* Người sử dụng lao động hằng tháng đóng trên quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 và khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp lao động là người giúp việc gia đình, theo một trong các mức sau:

Mức đóng bình thường bằng 0,5% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời được áp dụng đối với người lao động là cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, quân đội, công an, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách nhà nước;

b) Mức đóng bằng 0,3% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với doanh nghiệp bảo đảm điều kiện theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này

(Điều 5. Các trường hợp được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được áp dụng mức đóng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 của Nghị định này nếu bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Trong vòng 03 năm tính đến thời điểm đề xuất không bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội;

2. Thực hiện việc báo cáo định kỳ tai nạn lao động và báo cáo về an toàn, vệ sinh lao động chính xác, đầy đủ, đúng thời hạn trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất;

3. Tần suất tai nạn lao động của năm liền kề trước năm đề xuất phải giảm từ 15% trở lên so với tần suất tai nạn lao động trung bình của 03 năm liền kề trước năm đề xuất hoặc không để xảy ra tai nạn lao động tính từ 03 năm liền kề trước năm đề xuất)

Người sử dụng lao động hằng tháng đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp với mức 0,5% mức lương cơ sở đối với mỗi người lao động quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội.

* Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì mức đóng hằng tháng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần.

* Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì mức đóng hằng tháng tương ứng theo điều kiện từng trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần.

Các bạn quan tâm, mời xem chi tiết tại Nghị định 58/2020/NĐ-CP ngày 27/5/2020 của Chính phủ tại trang thuvienphap1uat.vn

MÂY TRẮNG (t/h)

 

Quy định mới về vị trí việc làm và biên chế công chức

Kể từ ngày 20/7/2020, Nghị định số 62/2020/NĐ-CP ngày 01/6/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và biên chế công chức chính thức có hiệu lực.

Nghị định quy định căn cứ xác định vị trí việc làm, gồm: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan, tổ chức; Mức độ phức tạp, tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động; phạm vi, đối tượng phục vụ; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Căn cứ xác định biên chế công chức, gồm: Vị trí việc làm và khối lượng công việc của từng vị trí việc làm; mức độ hiện đại hóa về trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin; Thực tế việc sử dụng biên chế công chức được giao. Ngoài ra, đối với cơ quan, tổ chức ở địa phương còn phải căn cứ vào quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và đặc điểm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Căn cứ xác định cơ cấu ngạch công chức, gồm: Vị trí việc làm; Mức độ phức tạp của công việc đối với từng vị trí việc làm; Tiêu chuẩn ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm.

Cơ cấu ngạch công chức của mỗi cơ quan, tổ chức là tỷ lệ % công chức giữ các ngạch phù hợp với vị trí việc làm và mức độ phức tạp của công việc theo vị trí việc làm. Bộ trưởng Bộ nội vụ hướng dẫn cụ thể việc xác định cơ cấu ngạch công chức.

Trình tự phê duyệt vị trí việc làm: (1) Các cơ quan, tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải đơn vị sự nghiệp công lập, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bộ, ngành, địa phương) căn cứ vào Khoản 1 Điều 4 Nghị định này (Căn cứ xác định vị trí việc làm) và văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về vị trí việc làm để xây dựng đề án vị trí việc làm của cơ quan, tổ chức mình, gửi cơ quan, tổ chức theo quy định tại Khoản 2 Điều này để thẩm định. (2) Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ về tổ chức cán bộ của bộ, ngành, địa phương tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đề án vị trí việc làm, tổng hợp vị trí việc làm của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ, ngành, địa phương, trình cấp có thẩm quyền quyết định quy định tại khoản 3 Điều này. (3). Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương phê duyệt vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý

Trình tự phê duyệt biên chế công chức hằng năm: (1). Các cơ quan, tổ chức thuộc bộ, ngành, địa phương căn cứ khoản 2 Điều 4 Nghị định này và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về định mức biên chế công chức để xây dựng kế hoạch biên chế công chức hằng năm của cơ quan, tổ chức mình, gửi cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này. (2). Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ về tổ chức cán bộ của bộ, ngành, địa phương tiếp nhận hồ sơ, thẩm định kế hoạch biên chế công chức hằng năm của các cơ quan, tổ chức; tổng hợp, lập kế hoạch biên chế công chức hằng năm của bộ, ngành, địa phương để bộ, ngành, địa phương gửi Bộ Nội vụ thẩm định. (3). Bộ Nội vụ thẩm định kế hoạch biên chế công chức hằng năm của bộ, ngành, địa phương; tổng hợp kế hoạch biên chế công chức hằng năm của bộ, ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quyết định giao biên chế công chức đối với từng bộ, ngành, địa phương sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. (4). Bộ, ngành, địa phương quyết định giao biên chế công chức đối với từng cơ quan, tổ chức thuộc bộ, ngành, địa phương trong số biên chế công chức được cấp có thẩm quyền giao.

Trường hợp các Bộ, ngành, địa phương không gửi kế hoạch biên chế công chức đúng thời hạn quy định, Bộ Nội vụ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định biên chế công chức của Bộ, ngành, địa phương đó với tỷ lệ tinh giản biên chế cao hơn 1% so với tỷ lệ tinh giản biên chế theo lộ trình hằng năm.

Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức thực hiện không đúng quy định về vị trí việc làm và biên chế công chức tại Nghị định này bị xem xét xử lý trách nhiệm theo quy định của pháp luật và đưa vào xem xét phân loại, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm; đồng thời phải bồi hoàn số kinh phí đã sử dụng vượt quá số biên chế công chức được cơ quan có thẩm quyền giao hoặc sử dụng không đúng quy định về quản lý và sử dụng biên chế công chức.

Các bạn quan tâm, mời xem chi tiết tại Nghị định 62/2020/NĐ-CP ngày 01/6/2020 của Chính phủ tại trang thuvienphap1uat.vn

MÂY TRẮNG (t/h)

Người lao động “hiến kế” cho công tác an toàn vệ sinh lao động

Câu hỏi phần tự luận, Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu kiến thức pháp luật trong CNVCLĐ năm 2020 (kỳ thi tháng 5) có nội dung: Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động (AT-VSLĐ) năm 2020 có chủ đề “Đẩy mạnh cải thiện điều kiện lao động và kiểm soát các nguy cơ rủi ro về AT-VSLĐ tại nơi làm việc”. Là người làm công tác AT-VSLĐ, với nhiệm vụ tham mưu, giúp người sử dụng lao động tổ chức thực hiện công tác AT-VSLĐ tại cơ sở sản xuất, kinh doanh của mình, anh/chị sẽ đề xuất những giải pháp hữu hiệu nào để đảm bảo thực hiện tốt chủ đề của Tháng hành động về AT-VSLĐ năm nay?

Với câu hỏi trên, Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh một mặt giúp đoàn viên công đoàn, CNVCLĐ ôn lại kiến thức về công tác AT-VSLĐ, đồng thời “hiến kế” cho các cấp, các ngành những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chủ đề Tháng hành động về AT-VSLĐ năm 2020. Cuộc thi đã có 1.422 bài dự thi, trong đó có nhiều ý kiến đóng góp rất có giá trị tham khảo, áp dụng trong thực tiễn.

Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về ATVSLĐ

Hầu hết các ý kiến, góp ý đều tập trung vào việc đề xuất người lao động (NLĐ), người sữ dụng lao động thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác AT-VSLĐ như Luật ATVSLĐ năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014… (Chị Trần Thị Thủy đến từ Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong, bạn Phạm Thị Ngọc Trân ở Trường Mầm non Hoa Hồng, thuộc LĐLĐ TP. Trà Vinh, bạn Nguyễn Thị Thu Thảo đến từ LĐLĐ huyện Càng Long…).

Phối hợp với CĐCS tuyên truyền, phổ biến các quy định về ATVSLĐ tại nơi làm việc

Đề xuất tổ chức tuyên truyền, giúp cho NLĐ chấp hành nghiêm quy định, nội quy, quy trình, yêu cầu về AT-VSLĐ bằng phương thức treo băng rôn, thông tin loa phát thanh, dán tờ rơi tại nơi sản xuất nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của NLĐ, người sử dụng lao động đến công tác AT-VSLĐ (chị Trần Thị Thủy). Phối hợp với Công đoàn tuyên truyền các quy định về ATVSLĐ tại nơi làm việc bằng các hình thức trực quan, loa phát thanh nội bộ, tờ rơi, cẩm nang, qua facebook, zalo, tin nhắn (bạn Phạm Thị Ngọc Trân).

Chăm sóc sức khỏe, tăng sức đề kháng cơ thể, cải thiện bữa ăn giữa ca cho NLĐ

Đa số ý kiến đề xuất tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho NLĐ theo tiêu chuẩn, chế độ quy định. Chị Trần Thị Thủy đề xuất, ngoài khám sức khỏe định kỳ còn tổ chức thăm khám theo tính chất, yêu cầu công việc, nhất là đối với lao động nữ, lao động thường xuyên làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại, có nguy cơ cao về AT-VSLĐ. Bạn Phạm Thị Ngọc Trân đề xuất nếu doanh nghiệp có tổ chức bếp ăn tập thể, cần phải đảm bảo đủ chất theo từng ngành nghề, từng giới tính… để tăng cường sức khỏe, tăng sức đề kháng cho NLĐ. Bạn Đinh Ngọc Ẩn đến từ Trường Tiểu học Huyền Hội, thuộc LĐLĐ huyện Càng Long đề xuất chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tổ chức tập thể dục trước khi làm việc giúp tăng cường sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ cho NLĐ, thực hiện chế độ bồi dưỡng phù hợp cho từng đối tượng lao động.

Xây dựng kế hoạch AT-VSLĐ hằng năm; huấn luyện về ATVSLĐ cho NLĐ

Bạn Chung Thị Bé Hân công tác tại Trường Mẫu giáo Bé Ngoan, thuộc LĐLĐ huyện Càng Long cho rằng, nhiệm vụ của người làm tham mưu về công tác AT-VSLĐ, đầu tiên là lập kế hoạch AT-VSLĐvà phải được lấy ý kiến Ban Chấp hành CĐCS. Trong đó quan tâm thường xuyên đánh giá rủi ro cao về AT-VSLĐ tại nơi làm việc, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và có kế hoạch ứng cứu khẩn cấp.

Theo chị Trần Thị Thủy, doanh nghiệp cần tổ chức huấn luyện về AT-VSLĐ cho đội ngũ an toàn vệ sinh viên và các bộ phận thường xuyên, trực tiếp làm việc với máy móc, thiết bị… có nguy cơ cao về AT-VSLĐ; Tự kiểm tra về AT-VSLĐ tại đơn vị mình.

Nhiều liên hệ thực tiễn có giá trị

Triển khai, thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện lao động, kiểm soát các nguy cơ rủi ro về ATVSLĐ tại nơi làm việc theo chủ đề của Tháng hành động về AT-VSLĐ năm 2020, nhiều bạn đã có nhiều liên hệ thực tế có giá trị tham khảo.

Đề xuất chủ doanh nghiệp thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện lao động, kiểm soát các nguy cơ rủi ro về AT-VSLĐ tại nơi làm việc tùy theo ngành, nghề (chị Trần Thị Thủy). Tùy ngành, nghề mà rà soát để xác định các yếu tố nguy hiểm, có hại đến sức khỏe của nhân viên như: ngành may mặc cần quan tâm độ ồn, bụi, thiết bị điện… ngành thủy sản quan tâm các yếu tố hóa chất, vi sinh vật có hại, các bộ phận truyền động của máy để có biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa tai nạn lao động hiệu quả (bạn Phạm Thị Ngọc Trân). Bạn Dương Mộng Thu đến từ Trường Đại học Trà Vinh cho rằng, cần đảm bảo điều kiện AT-VSLĐcho tất cả nhân viên và phòng ban, đơn vị bằng việc áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường. Đặc biệt quan tâm đến AT-VSLĐcho người lao động làm việc có yêu cầu nghiêm ngặt về AT-VSLĐ; khuyến khích nhân viên tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện…

Còn nhiều ý kiến, đề xuất của đoàn viên, CNVCLĐ thông qua cuộc thi đã “hiến kế” cho các cấp, các ngành, tổ chức công đoàn nhằm thực hiện có hiệu quả chủ đề Tháng hành động về AT-VSLĐ năm 2020. Trong khuôn khỗ bài viết này, Ban Biên tập tổng hợp, phân tích một số giải pháp, đề xuất để giới thiệu đến bạn đọc.

TRÍ DŨNG

Phòng tránh tai nạn lao động - Trách nhiệm không của riêng ai

Trong những năm qua, tai nạn lao động (TNLĐ) trên địa bàn tỉnh Trà Vinh còn diễn biến phức tạp. TNLĐ không chỉ gây nên nỗi đau về thể xác, tinh thần cho người lao động (NLĐ), mà còn để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội. Vì vậy, trách nhiệm đối với công tác an toàn vệ sinh lao động (AT - VSLĐ) đang rất cần sự chung tay của cộng đồng.

Tuyên truyền, huấn luyện ATVSLĐ tại Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong

Theo thống kê, năm 2019 toàn tỉnh ghi nhận xảy ra 5 vụ, làm chết 8 người, đó đều là những vụ TNLĐ nghiêm trọng. Phân tích những vụ TNLĐ diễn ra trên địa bàn tỉnh thời gian qua cho thấy, có nhiều nguyên nhân của TNLĐ như: Một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh chưa quan tâm đến công tác AT - VSLĐ, phổ biến nhất là không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn, không huấn luyện, không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho NLĐ... Về phía NLĐ, vẫn còn một bộ phận NLĐ thiếu kiến thức về an toàn, chưa chấp hành nghiêm chỉnh quy định về ATVSLĐ tại nơi làm việc…

TNLĐ luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm bằng hệ thống các văn bản, các quy định của pháp luật như: Luật An toàn vệ sinh lao động, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội… kể cả các chế tài hình sự đối với các vi phạm nghiêm trọng nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của NLĐ, bảo vệ sản xuất, tài sản của doanh nghiệp… hướng đến phát triển sản xuất kinh doanh bền vững.

Trên thực tế, hậu quả của TNLĐ không chỉ gây thiệt hại cho bản than NLĐ mà còn ảnh hưởng đến người thân, gia đình, vì đa số NLĐ là lao động chính trong gia đình. Người bị TNLĐ thường bị giảm, mất nguồn thu nhập chính, chi phí điều trị tốt kém, cần có người chăm sóc, sức khỏe giảm xúc… là những hệ lụy nặng nề trong gia đình người bị TNLĐ. Mặc khác, TNLĐ cũng ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp và để lại hậu quả nặng nề cho xã hội. Vì khi có NLĐ của mình bị TNLĐ, chắc chắn bị gián đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mất chi phí điều trị, bồi thường, gây tâm lý hoang mang cho NLĐ…

Chủ đề của Tháng hành động về AT - VSLĐ năm 2020 là “Đẩy mạnh cải thiện điều kiện lao động và kiểm soát các nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc”. Để thực hiện tốt chủ đề trên, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp công đoàn trong công tác AT - VSLĐ, giảm thiếu TNLĐ, các cấp Công đoàn cần xây dựng kế hoạch, chủ động tổ chức các lớp tập huấn về AT - VSLĐ cho các cán bộ Công đoàn, cán bộ làm công tác AT - VSLĐ các cấp, mạng lưới an toàn vệ sinh viên; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về AT - VSLĐ tới NLĐ; phối hợp với các cơ quan truyền thông tuyên truyền các bản tin, bài viết về công tác ATVSLĐ, tuyên truyền bằng hình thức tổ chức hội thi về An toàn vệ sinh viên giỏi…

Ngoài ra, hàng năm, Liên đoàn Lao động tỉnh còn chỉ đạo, hướng dẫn các cấp Công đoàn, nhất là CĐCS trong các doanh nghiệp phối hợp với người sử dụng lao động thực hiện các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc, ngăn ngừa TNLĐ, bệnh nghề nghiệp cho NLĐ. Hàng năm phát động CNVCLĐ thực hiện tốt phong trào "Xanh - sạch - đẹp, bảo đảm AT - VSLĐ", tổ chức phát động và hưởng ứng Tháng hành động về AT-VSLĐ. Qua các phong trào đã xuất hiện nhiều mô hình, cách làm hay như: Xây dựng “Góc bảo hộ lao động” tại Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong, “Góc thông tin bảo hộ lao động” tại Công ty TNHH May Hồng Việt - Trà Vinh… từ đó góp phần đó nâng cao ý thức, trách nhiệm cho NLĐ và người sử dụng lao động.

Bảo vệ NLĐ, trước tiên là bảo vệ tính mạng sức khỏe của họ. Đảm bảo AT - VSLĐ tại nơi làm việc là nhằm ngăn ngừa TNLĐ, bệnh nghề nghiệp cho NLĐ, là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của tổ chức Công đoàn mà còn cần được tiếp tục quan tâm sâu sắc trong thời gian tới của toàn xã hội.

Tin, bài: TRÍ DŨNG

Nghị định 61/2020/NĐ-CP: Sửa đổi quy định về bảo hiểm thất nghiệp

Ngày 29/5/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 61/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)

Theo đó, sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 Điều 12 (Điều 12. Đóng bảo hiểm thất nghiệp)

“2. Người lao động được xác định là đang đóng BHTN theo quy định tại Điều 49 Luật Việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Người lao động đã đóng BHTN của tháng chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội;

b) Người lao động đã đóng BHTN của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội;

c) Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội;

d) Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội;

đ) Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

3. Tháng đóng BHTN của người lao động được tính nếu người sử dụng lao động và người lao động đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc và đã đóng BHTN.

Trường hợp người lao động đã được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp mới được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng BHTN thì thời gian này được xác định là thời gian đóng nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Việc làm.”

Đồng thời Nghị định 61 cũng đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 (Điều 3. Điều kiện được hỗ trợ)

“2. Gặp khó khăn thuộc các trường hợp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Luật Việc làm dẫn đến nguy cơ phải cắt giảm số lao động hiện có từ 30% hoặc từ 30 lao động trở lên đối với người sử dụng lao động có sử dụng dưới 200 lao động; từ 50 lao động trở lên đối với người sử dụng lao động có sử dụng từ 200 đến 1000 lao động; từ 100 lao động trở lên đối với người sử dụng lao động có sử dụng trên 1000 lao động, không kể lao động giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc một công việc nhất định có thời hạn dưới 01 tháng.

(Những trường hợp được coi là bất khả kháng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Luật Việc làm, bao gồm: Hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh làm thiệt hại một phần hoặc toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, nhà xưởng có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi người sử dụng lao động bị thiệt hại; Thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất kinh doanh)

Ngoài ra, Nghị định 61 còn sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp; xác định người lao động là có việc làm trong một số trường hợp…

Nghị định 61/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2020. Mời các bạn quan tâm truy cập thuvienphapluat để tìm xem./.

MÂY TRẮNG (t/h)

Từ 25/5/2020: Mã số BHXH cũng chính là mã định danh y tế

Ngày 25/5/2020, Bộ Y tế ban hành Quyết định 2153/QĐ-BYT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định 4376/QĐ-BYT ngày 24/9/2019 về Quy chế xác lập, sử dụng và quản lý mã định danh y tế.

Quyết định nêu rõ: Mã định danh y tế là nhóm dữ liệu được sử dụng để xác định danh tính một cá nhân tham gia dịch vụ chăm sóc sức khỏe .

Mã số BHXH là số định danh cá nhân duy nhất của người tham gia do cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp để ghi trên sổ BHXH, thẻ BHYT theo quy định tại Quyết định số 346/QĐ-BHXH ngày 28/3/2019 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Ban hành quy chế quản lý và cấp mã số bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Nguyên tắc xác định mã định danh y tế: (1). Sử dụng mã số bảo hiểm xã hội làm mã định danh y tế. (2) Mỗi người dân chỉ được cấp một mã định danh y tế duy nhất và mỗi mã định danh y tế chỉ được cấp cho một người dân và tồn tại suốt đời. (3) Các cơ sở y tế sử dụng mã định danh y tế để liên kết thông tin sức khỏe của người dân với Bệnh án điện tử, Hồ sơ sức khỏe điện tử và các phần mềm thông tin y tế khác.

Mã định danh y tế có những đặc tính cơ bản sau đây:

(1) Sẵn sàng: Luôn trong trạng thái sẵn sàng bất cứ khi nào, bất cứ đâu để các cơ sở y tế có thể truy vấn, sử dụng mã định danh y tế.

(2) Nhận diện: Có khả năng xác định danh tính của một cá nhân gắn liền với một mã định danh hợp lệ. Thông tin định danh có thể bao gồm các thông tin sau: mã bảo hiểm xã hội, họ tên, ngày sinh, giới tính, số chứng minh nhân dân, địa chỉ khai sinh. Những thông tin này không được đưa vào việc sinh ra mã định danh y tế, nhưng được sử dụng gắn liền với mã định danh y tế và có thể được cập nhật trong trường hợp có yêu cầu thay đổi hợp lệ từ người dân.

(3) Liên thông: mã định danh y tế có thể được sử dụng kết hợp với các thông tin khác để tạo ra mã liên kết các hồ sơ y tế trên các hệ thống thông tin khác nhau.

(4) Ánh xạ: Có khả năng tạo liên kết với các mã định danh khác.

(5) Xác thực: Có khả năng kiểm tra tính hợp lệ của mã định danh.

Mã định danh y tế gồm mười ký tự số là số định danh cá nhân của người tham gia BHXH, BHYT theo quy định tại Quyết định số 1263/QĐ-BHXH ngày 21/11/2014 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành và quy định quản lý, sử dụng hệ thống danh mục dùng chung, chỉ tiêu báo cáo ngành BHXH.

Mời các ban quan tâm xem chi tiết tại Quyết định 2153/QĐ-BYT trên trang thuvienphapluat.

MÂY TRẮNG (t/h)

Ra quân hưởng ứng Tháng vận động triển khai BHXH toàn dân

Ngày 23/5/2020, tại Bưu điện tỉnh Trà Vinh, Bưu điện tỉnh phối hợp với Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh tổ chức lễ ra quân hưởng ứng Tháng vận động triển khai BHXH toàn dân, tuyên truyền vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện.

Đ/c Lê Văn Hẳn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại lễ ra quân  

 

Lễ ra quân được kết nối trực tuyến với điểm cầu Trung ương. Tại điểm cầu Trà Vinh, đồng chí Lê Văn Hẳn, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh dự và phát biểu ý kiến chỉ đạo.  

Với chủ đề “Chính sách BHXH - điểm tựa an sinh của người lao động và Nhân dân”, gắn với các nội dung truyền thông về vị trí, vai trò, ý nghĩa nhân văn của chính sách BHXH, đặc biệt nhấn mạnh về quyền và lợi ích khi tham gia BHXH tự nguyện, qua đó, truyền tải nhiều thông điệp ý nghĩa như: “Đảng và Nhà nước chăm lo cuộc sống Nhân dân thông qua chính sách BHXH”; “BHXH là chính sách bảo hiểm của Đảng và nhà nước, vì quyền lợi của NLĐ và Nhân dân”; “Đảng và Nhà nước quyết tâm thực hiện BHXH toàn dân”; “Hãy tham gia BHXH vì sự ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình”… hướng tới nhóm đối tượng gồm người nông dân, người lao động tại khu vực phi chính thức.

Lãnh đạo tỉnh chụp ảnh lưu niệm với các lực lượng trước lễ ra quân 

Phát biểu tại lễ ra quân, đồng chí Lê Văn Hẳn đề nghị: Các cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các chính sách BHXH, BHYT của Đảng, Nhà nước; khuyến khích, vận động nhân dân tham gia BHXH để BHXH thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng diện bao phủ BHXH, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo BHXH tỉnh tăng cường tham mưu cho cấp ủy, chính quyền trong việc tổ chức, thực hiện chính sách BHXH, BHYT.  Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan thực hiện tốt chính sách BHXH, đặc biệt trong công tác thông tin tuyên truyền. Cùng với đó thực hiện tốt chính sách BHXH, tích cực triển khai các giải pháp đột phá để thực hiện cải cách hành chính và tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ tục, hồ sơ để người dân đăng ký tham gia BHXH tự nguyện.

Sau lễ phát động, cán bộ, nhân viên của ngành BHXH tỉnh và Bưu điện tỉnh đã đồng loạt diễu hành tuyên truyền lưu động trên các trục đường chính của thành phố Trà Vinh. Trong ngày ra quân, tỉnh Trà Vinh đã phát triển được 952 người tham gia BHXH tự nguyện.

Tin, ảnh: TRÍ DŨNG

SmartNews.com

footer2

Switch mode views: