• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Hãy hành động ngay từ hôm nay: “Tăng cường đánh giá, quản lý các nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc”

Từ năm 2013 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh xảy ra 30 vụ tai nạn lao động làm chết 33 người, bị thương nặng 08 người. Cứ đúng vào dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5; thời gian diễn ra Tuần lễ Quốc gia và Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ), Liên đoàn Lao động tỉnh đều tổ chức đoàn đến thăm hỏi, động viên, tặng quà cho CNVCLĐ và thân nhân người lao động bị tai nạn lao động chết người. Từ năm 2013 đến năm 2019 đã thăm hỏi trên 170 lượt người với tổng số tiền khoảng 90 triệu đồng.

Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh đến động viên, thăm hỏi gia đình. Ảnh: Minh Thiện

Tai nạn lao động - những hệ lụy

Khi Đoàn công tác đến thăm gia đình 04 công nhân bị ngạt khí khi thực hiện bơm, hút nước để vệ sinh bùn bên trong hố thu nước tại trạm bơm nước thô của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải, mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau nhưng đều đọng lại trong mỗi chúng tôi niềm xót thương và sự sẻ chia khi “người đầu bạc phải khóc tiễn kẻ đầu xanh”.

“Gia đình tôi có một đứa con trai duy nhất, năm nay nó 28 tuổi, nó vào công ty làm việc được hơn 03 năm, khi tôi hỏi “làm công việc ổn không con”, nó trả lời “ổn cha à”, vậy mà nó “đành bỏ” tôi và mẹ nó vĩnh viễn ra đi”, lời tâm sự nghe xót xa và thương cảm của người cha gần 70 tuổi - ông Kim Tiên, cha của Kim Minh Thuận.

Mẹ anh Nguyễn Văn Quý rưng rưng nước mắt nói với chúng tôi “Các cô, chú đến thăm và động viên gia đình, chúng tôi rất cảm ơn, trước đây hai vợ chồng tôi sống chung với vợ chồng nó, giờ con tôi mất rồi tôi rất mong các cô, chú khi vào dịp lễ, tết đến thăm hoặc điện thoại thăm hỏi để gia đình chúng tôi cảm thấy ấm lòng”, lời của người mẹ ngoài 60 tuổi rất có ý nghĩa, đó là việc mà tôi thiết nghĩ tổ chức công đoàn, lãnh đạo doanh nghiệp cần phải quan tâm.    

Khi người lao động bị tai nạn lao động không chỉ mang lại nỗi buồn lo cho bản thân và gia đình người lao động mà doanh nghiệp cũng phải gánh chịu rất nhiều chi phí cũng như trách nhiệm: chi phí y tế, trợ cấp hoặc bồi thường, thăm hỏi động viên gia đình…và đặc biệt là các đối tác sẽ đánh giá thế nào khi doanh nghiệp để xảy ra những vụ tai nạn lao động như vậy?

Tai nạn lao động có thể phòng tránh được

Thực trạng hiện nay cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp có sự chuyển biến rõ nét trong công tác an toàn, vệ sinh lao động như đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, áp dụng nhiều công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động thì vẫn có một số doanh nghiệp điều kiện lao động vẫn còn tồn tại những nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động, trong khi đó người sử dụng lao động và người lao động chưa có nhiều kỹ năng, chưa có kiến thức đầy đủ trong việc đánh giá, nhận diện các nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động dẫn đến nhiều vụ tai nạn lao động thương tâm chính vì thế tăng cường đánh giá, quản lý các nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc là hoạt động phòng ngừa rất bức thiết và đây cũng chính là chủ đề hoạt động của Tháng hành động về ATVSLĐ năm 2019.

Chủ đề hoạt động của Tháng hành động về ATVSLĐ năm 2019 nhằm góp phần thực hiện tốt tiêu chí “phấn đấu giảm số vụ và số người bị tai nạn lao động so với các tháng khác trong năm ít nhất 10%”. Muốn làm được điều này, tôi nghĩ cần có sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, riêng đối với tổ chức công đoàn, Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã chỉ đạo các cấp công đoàn chủ động hoặc tham gia thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, tuyên truyền, vận động người lao động thực hiện tốt các quy định của pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, biện pháp bảo đảm ATVSLĐ tại nơi làm việc; thông qua các cuộc họp hoặc loa nội bộ tuyên truyền để người lao động nắm rõ, hiểu và đảm bảo thực hiện tốt công tác ATVSLĐ. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền như tọa đàm, tổ chức hoặc tham gia hội thi an toàn vệ sinh viên giỏi; cấp phát tài liệu, tờ rơi, tranh áp phích và luôn có các khẩu hiệu tại nơi làm việc như: “Tuân thủ nội qui, qui trình, biện pháp làm việc an toàn để bảo vệ chính mình, đồng nghiệp và gia đình”; “Cải thiện điều kiện làm việc vì an toàn, sức khỏe và tính mạng của người lao động”; “Chung tay xây dựng văn hóa an toàn tại nơi làm việc”; “An toàn để sản xuất, sản xuất phải đảm bảo an toàn”.

Thứ hai, từ đầu năm, BCH CĐCSphối hợp với chuyên môn tổ chức các phong trào thi đua sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phong trào “Xanh - Sạch - Đẹp, Đảm bảo ATVSLĐ” và xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc qua đó thúc đẩy sự tham gia của người sử dụng lao độngvà người lao động trong việc bảo đảm ATVSLĐ. Nhân dịp Tháng hành động về ATVSLĐ hoặc cuối năm biểu dương, khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng cho người lao động có các sáng kiến, giải pháp cải tiến kỹ thuật, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao năng suất lao động và đảm bảo ATVSLĐ.

Thứ ba, Đẩy mạnh việc phát triển về số lượng đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên ở các cơ sở sản xuất. Tổ chức tập huấn kiến thức về ATVSLĐ và kỹ năng, phương pháp hoạt động cho mạng lưới an toàn vệ sinh viên hoặc phân công cán bộ tích cực tham gia các lớp tập huấn do các ban ngành hữu quan tổ chức.

Thứ tư, BCH CĐCStrong doanh nghiệp chủ động tham gia với người sử dụng lao độngtổ chức tư vấn, tập huấn, huấn luyện, khám sức khỏe, khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

Thứ năm, Thực hiện công tác giám sát và phối hợp với các cơ quan chức năng tập trung vào thanh tra, kiểm tra, giám sát việc xây dựng các nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm ATVSLĐ; việc đánh giá các nguy cơ rủi ro về ATVSLĐ tại nơi làm việc; công tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, kiểm định máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ.

Thực hiện tốt công tác ATVSLĐ góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại nơi làm việc, đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà đặc biệt là bảo vệ sức khỏe người lao động chính là góp phần bảo vệ nguồn nhân lực của đất nước.

MÂY TRẮNG

 

KHỞI KIỆN ĐÒI KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN

Pháp luật hiện hành quy định doanh nghiệp (DN) có hay không có CĐCS đều phải đóng kinh phí Công đoàn (CĐ) bằng 2% tổng số tiền lương đóng BHXH cho người lao động (NLĐ). Khoản tiền này các cấp CĐ sẽ dùng để chăm lo cho NLĐ và duy trì hoạt động. Thực tế, nhiều DN cố tình “phớt lờ”, hoặc trây ỳ, nợ, khiến việc CĐ chăm lo cho NLĐ gặp khó khăn. Không “bó tay” với sự trây ỳ của DN, Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) huyện Bình Chánh (TPHCM), đã khởi kiện để đòi kinh phí CĐ và thu được nhiều thành quả.

Có căn cứ pháp luật vững chắc

LĐLĐ huyện Bình Chánh hiện quản lý 620 CĐCS, trong đó có 480 CĐCS khu vực ngoài nhà nước với gần 23.000 đoàn viên/28.000 NLĐ. Hầu hết các DN trên địa bàn huyện đã đóng kinh phí CĐ đầy đủ theo đúng quy định, từ đó LĐLĐ huyện cấp lại kinh phí cho các CĐCS để hoạt động chủ yếu là chăm lo cho đoàn viên, NLĐ. Mặc dù đã được tuyên truyền, phổ biến nhiều, nhưng vẫn còn một số DN chưa tự giác chấp hành pháp luật, chưa đóng hoặc đóng không đủ kinh phí CĐ dẫn đến việc LĐLĐ huyện chưa có kinh phí để cấp lại cho CĐCS hoạt động và chăm lo cho NLĐ. Trước tình hình đó, LĐLĐ huyện quyết định phải khởi kiện để đòi kinh phí CĐ.

Kinh phí CĐ là nguồn quan trọng để CĐ chăm lo cho NLĐ (ảnh: Công đoàn Khu Kinh tế tặng quà cho đoàn viên, NLĐ có hoàn cảnh khó khăn).

Ông Nguyễn Hữu Chí - Chủ tịch LĐLĐ huyện Bình Chánh - nhớ lại: “Lúc đầu, cũng còn nhiều ý kiến lo ngại như có cơ sở pháp lý để kiện không? Kiện có ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của địa phương? Đụng chạm với DN thì hoạt động CĐ sẽ gặp khó khăn…”. Để trả lời những câu hỏi này, LĐLĐ huyện đã nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật, qua đó thấy Khoản 3, Điều 30 Luật Công đoàn 2012 quy định: “Tranh chấp liên quan đến việc không thực hiện hoặc từ chối thực hiện trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động đối với CĐ thì CĐCS hoặc CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật”. Có được cơ sở pháp luật vững chắc, LĐLĐ huyện đã báo cáo với Ban Thường vụ Huyện ủy để phối hợp với các ngành chức năng để chuẩn bị khởi kiện. “Thật vui khi Ban Thường vụ Huyện ủy và các ngành chức năng ở huyện đều ủng hộ chủ trương này. Chính điều đó là động lực lớn để chúng tôi bắt tay vào việc khởi kiện đòi kinh phí CĐ” - ông Chí hào hứng kể.

Không đóng kinh phí CĐ, DN “thiệt đơn thiệt kép”

Để có căn cứ khởi kiện, LĐLĐ huyện Bình Chánh đã làm việc với cơ quan BHXH để xác minh số tiền đóng BHXH của DN cho NLĐ. Sau đó, LĐLĐ huyện sẽ 2 lần gửi thư mời DN đến trao đổi, đề nghị đóng kinh phí CĐ theo đúng quy định. “Không phải dễ dàng, có DN đến chất vấn lại chúng tôi thu kinh phí CĐ rồi dùng để làm gì? Lại có DN thì thách thức… Chúng tôi kiên trì giải thích cho DN quy định của pháp luật và việc sử dụng tài chính CĐ theo hướng dẫn của Tổng LĐLĐVN, LĐLĐ TPHCM là chủ yếu để chăm lo cho NLĐ. Thế nhưng vẫn có nhiều DN không chịu nộp kinh phí CĐ. Đến lúc đó, chúng tôi đành phải đưa vụ việc ra tòa theo đúng quy định” - ông Chí kể.

Từ năm 2017 đến nay, LĐLĐ huyện Bình Chánh đã khởi kiện 25 DN nợ kinh phí CĐ. Điều đáng mừng, qua hòa giải tại tòa trước khi xét xử, đã có 19 DN đóng kinh phí CĐ với số tiền gần 5,67 tỉ đồng. Có được số tiền này, LĐLĐ huyện Bình Chánh có thêm nguồn lực để chăm lo cho NLĐ. Số còn lại, các DN đã có văn bản gửi LĐLĐ huyện cam kết lộ trình thực hiện đóng kinh phí CĐ. Hiện TAND huyện còn đang thụ lý đơn kiện 6 DN nợ hơn 1,7 tỉ đồng.

Luật sư Nguyễn Hữu Học (Đoàn Luật sư TPHCM) phân tích: DN nên nộp kinh phí CĐ đầy đủ. Bởi lẽ, nếu chậm nộp, DN có thể xử phạt từ 12% đến 20% tổng số tiền phải đóng tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng, tùy việc chậm đóng, đóng không đúng mức, đóng không đủ hay không đóng. Ngoài ra, DN còn phải trả thêm tiền lãi (với lãi suất không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại) tính trên số tiền kinh phí CĐ chưa đóng, chậm đóng. Chưa kể, danh tính của DN nợ, trây ỳ kinh phí CĐ có thể bị bêu ra trước công luận, ảnh hưởng đến uy tín, như vậy, DN sẽ thiệt đơn, thiệt kép.

BAN MAI (Theo Lao động)

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN

Đ/c Lê Thị Thu Hảo, Phó Giám đốc BHXH tỉnh Trà Vinh trả lời ý kiến của NLĐ trong buổi gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với công nhân lao động.

A. BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8, có hiệu lực thực hiện kể từ 01/01/2016. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có nhiều quy định mới, mục đích hướng tới việc mở rộng đối tượng tham gia, cả trong bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm góp phần tăng nhanh diện bao phủ bảo hiểm xã hội theo mục tiêu đã được đề ra tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động số 25-CTr/TU ngày 18/01/2013 của Tỉnh ủy.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của bản thân để được hưởng các chế độ theo quy định. Đây là một trong những chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa rất sâu sắc, giúp đảm bảo cuộc sống ổn định khi về già cho người lao động tự do, người dân ở các khu vực nông thôn.

Cán bộ, đảng viên đang công tác tại các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh, khi gia đình có người thân là những người lao động kinh doanh tự do, người làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, muốn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, cần lưu ý những quy định mới về chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đây:

1. Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 không khống chế tuổi trần tham gia như trước đây, quy định “Mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, nếu không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đều có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện”.

2. Quy định hạ mức sàn thu nhập tối thiểu đóng BHXH tự nguyện bằng chuẩn hộ nghèo ở khu vực nông thôn (hiện nay là 700.000 đồng) để phù hợp với khả năng tham gia của người dân; khác với trước đây quy định mức sàn thu nhập là mức lương cơ sở. Do vậy, với tỷ lệ đóng là 22%, người tham gia sẽ phải đóng với mức thấp nhất là 154.000đồng/tháng. Cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở (hiện nay 1.390.000đ x 20 = 27.800.000đ.)

3. Quy định phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện một cách linh hoạt hơn, ngoài phương thức đóng theo tháng, quý, 6 tháng hoặc năm, người tham gia còn có thể đóng một lần cho nhiều năm về sau (không quá 5 năm), và đóng một lần cho những năm còn thiếu (không quá 10 năm đối với trường hợp đủ tuổi nghỉ hưu nhưng còn thiếu tối đa không quá 10 năm để được 20 năm hưởng lương hưu) .

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A, 60 tuổi, đã tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được 15 năm 09 tháng, còn thiếu 4 năm 3 tháng mới đủ 20 năm. Như vậy, ông có thể đóng một lần cho số năm còn thiếu để đủ 20 năm tham gia bảo hiểm xã hội nhằm đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng theo quy định và được hưởng lương hưu ngay sau tháng đóng đủ, được cấp thẻ BHYT sau khi nghỉ hưu với mức hưởng chi phí khám, chữa bệnh là 95%.

4. Kể từ 01/01/2018 trở đi, khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ người tham gia: hỗ trợ 30% mức đóng đối với người thuộc hộ nghèo, 25% mức đóng đối với người thuộc hộ cận nghèo và 10% mức đóng đối với các đối tượng khác.

5. Người dân khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ có lợi về nhiều mặt, đó là: khi đủ điều kiện về tuổi đời (55 đối với nữ và 60 đối với nam), đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 trở lên thì được hưởng lương hưu theo quy định;

(Từ 55% đến 75% tùy theo nam, nữ và số năm đóng BHXH) khi nghỉ hưu được cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế và được hưởng quyền lợi khám, chữa bệnh BHYT là 95% khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến; thân nhân được hưởng chế độ tử tuất nếu đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc hưu tri mà chết. Trường hợp đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mà có yêu cầu thì được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục tham gia BHXH;

+ Ra nước ngoài để định cư;

+ Bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan, cổ chướng, phong lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS hoặc những bệnh khác mà tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

+ Sau một năm không tiếp tục đóng BHXH mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH. 

Mức hưởng trợ cấp tuất hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau: 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước 2014; 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ 2014 trở đi.

B. BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN

I. HỘ GIA ĐÌNH THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ

Hộ gia đình tham gia BHYT là toàn bộ những người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú, trừ đối tượng đã tham gia tại các nhóm khác (nhóm do người lao độngngười sử dụng lao động; tổ chức BHXH và ngân sách Nhà nước đóng, hỗ trợ mức đóng, do người sử dụng lao động đóng) và người đã khai báo tạm vắng.

II. MỨC ĐÓNG, PHƯƠNG THỨC ĐÓNG BẢO HIỂM Y TẾ

1. Mức đóng bảo hiểm y tế

Mức đóng BHYT hàng tháng của người tham gia BHYT hộ gia đình là 4,5% mức lương cơ sở.

Việc giảm trừ mức đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình được thực hiện khi các thành viên tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính, từ thành viên thứ hai trở đi được giảm cụ thể như sau:

+ Người thứ nhất đóng 4,5% mức lương cơ sở (tại thời điểm là: 1.390.000 đồng).

+ Người thứ hai, thứ ba và thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60% và 50% mức đóng của người thứ nhất;

+ Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất.

Ví dụ: Một gia đình có 5 người tham gia BHYT hộ gia đình, với mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2018 là 1.390.000 đồng thì mức đóng BHYT của hộ gia đình như sau:

Mức đóng của người thứ 1:

1.390.000 x 4,5% x 12 tháng = 750.600đ/ năm;

Người thứ 2: 750.600đ x 70% = 525.420đ/ năm;

Người thứ 3: 750.600đ x 60%   = 450.360đ/ năm;

Người thứ 4: 750.600đ x 50%   = 375.300đ/ năm;

Người thứ 5 trở đi: 750.600đ x 40% = 300.240đ/ năm.

Hộ gia đình 5 người đóng là 2.401.920 đ

2. Phương thức đóng bảo hiểm y tế

Định kỳ 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng, đại diện hộ gia đình, cá nhân đóng đủ số tiền thuộc trách nhiệm phải đóng vào quỹ BHYT.

Lưu ý:

+ Người mới tham gia BHYT lần đầu thẻ BHYT có giá trị sử dụng sau 30 ngày tính từ ngày nộp tiền cho cơ quan BHXH

+ Người tham gia liên tục (thời gian cách quản không quá 03 tháng) thẻ BHYT có giá trị sử dụng ngay khi nộp tiền cho cơ quan BHXH

III. MỨC HƯỞNG, THỦ TỤC KCB BHYT

1. Mức hưởng bảo hiểm y tế

1.1. Khám chữa bệnh đúng tuyến

a. Người tham gia BHYT theo hộ gia đình có mức hưởng BHYT là 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

b.Ngoài ra còn được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh khi:

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở là 208.500đ.

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã.

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí KCB trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở (8.340.000đ), trừ trường hợp tự đi KCB không đúng tuyến.

1.2. Khám chữa bệnh không đúng tuyến:

Trình thẻ BHYT ngay khi đến KCB được quỹ BHYT thanh toán chi phí trong phạm vi được hưởng BHYT trên mức hưởng theo tỷ lệ như sau:

a. Tại bệnh viện tuyến Trung ương: 40% chi phí điều trị nội trú nhân cho mức hưởng;

b. Tại bệnh viện tuyến tỉnh: 60% chi phí điều trị nội trú nhân cho mức hưởng từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01/01/2021 trong phạm vi cả nước;

c. Tại bệnh viện tuyến huyện: 100% chi phí KCB nhân cho mức hưởng (được thông tuyến huyện từ ngày 01/01/2016 trở đi) cụ thể như:

+ Người tham gia BHYT đăng ký KCB ban đầu tại trạm y tế tuyến xã, phòng khám đa khoa, bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện tuyến tỉnh được quyền KCB BHYT tại trạm y tế tuyến xã, phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh được hưởng 100% chi phí nhân cho mức hưởng.

+ Người tham gia BHYT đăng KCB ban đầu tại trạm y tế tuyến xã, phòng khám đa khoa, bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện tuyến tỉnh được quyền KCB BHYT tại bệnh viện tuyến huyện ngoài tỉnh và ngược lại được hưởng 100% chi phí nhân cho mức hưởng.

1.3. Mức thanh toán trực tiếp

Trường hợp người bệnh KCB tại cơ sở KCB không ký hợp đồng KCB BHYT mức thanh toán cụ thể như sau:

+ Tuyến huyện và tương đương: Thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng nhưng không quá 0,15 lần mức lương cơ sở (208.500đ) đối với KCB ngoại trú, 0,5 lần mức lương cơ sở (695.000đ) đối với KCB nội trú.

+ Tuyến tỉnh và tương đương (trừ trường hợp cấp cứu): Thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng nhưng không quá 1,0 lần mức lương cơ sở (1.390.000đ) khi KCB nội trú tại thời điểm ra viện.

+ Tuyến trung ương và tương đương (trừ trường hợp cấp cứu): Thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng nhưng không quá 2,5 lần mức lương cơ sở (3.475.000đ) khi KCB nội trú tại thời điểm ra viện.

* Trường hợp KCB tại nơi đăng ký KCB ban đầu không đúng quy định (trình không đúng thủ tục “thẻ BHYT sai thông tin với giấy tờ tùy thân và ngược lại, trình thiếu thủ tục chỉ có thẻ BHYT không có giấy tờ tùy thân và ngược lại…”): Thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng nhưng không quá 0,15 lần mức lương cơ sở (208.500đ) khi KCB ngoại trú, 0.5 lần mức lương cơ sở (695.000đ) khi KCB nội trú tại thời điểm ra viện.

2. Phạm vi được hưởng:

Người tham gia BHYT đi khám bệnh, chữa bệnh được quỹ BHYT chi trả các chi phí gồm 5 nội dung sau:

- Chi phí khám bệnh, chi phí ngày giường theo mức giá được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Chi phí các dịch vụ kỹ thuật trong phạm vi chuyên môn (XN, chẩn đoán hình ảnh, thủ thuật, phẩu thuật) theo danh mục và mức giá đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đúng quy định.

- Chi phí thuốc, hóa chất, vật tư y tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh theo danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán do Bộ Y tế quy định

- Chi phí máu và các chế phẩm của máu theo quy định của Bộ Y tế quy định giá tối đa và chi phí phục vụ cho việc xác định giá một đơn vị máu toàn phần, chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn.

3. Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

- Người tham gia BHYT khi đến KCB phải xuất trình thẻ BHYT có ảnh; trường hợp thẻ BHYT chưa có ảnh thì phải xuất trình một loại giấy tờ chứng minh về nhân thân của người đó.

- Trường hợp chuyển tuyến KCB, người tham gia BHYT phải xuất trình thêm giấy chuyển tuyến theo quy định của Chính phủ

+ Trường hợp người có thẻ BHYT mắc 62 bệnh, nhóm bệnh và các trường hợp quy định tại phụ lục kèm theo Thông tư 40/2015/ BYT thì giấy chuyển tuyến có giá trị sử dụng đến hết năm dương lịch (ngày 31/12 năm đó).

+ Trường hợp giấy chuyển tuyến có giá trị đến hết ngày 31/12 nhưng đợt điều trị chưa kết thúc thì được sử dụng giấy chuyển tuyến đó đến hết đợt điều trị.

- Người tham gia BHYT đến khám lại theo yêu cầu điều trị, phải xuất trình các giấy tờ quy định.

- Trường hợp cấp cứu, người tham gia BHYT phải xuất trình các giấy tờ quy định (tại ý1 hoặc ý2) trước khi ra viện để được hưởng quyền lợi như trường hợp KCB đúng tuyến.

- Xuất trình thêm Giấy chứng nhận không cùng chi trả trong năm theo mẫu số 05/BHYT để được miễn phần cùng chi trả trong năm khi KCB đúng tuyến.

IV. CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG BHYT

1. Chi phí trong phạm vi BHYT thanh toán đã được ngân sách Nhà nước chi trả.

2. Điều dưỡng, an dưỡng tại cơ sở điều dưỡng, an dưỡng.

3. Khám sức khỏe.4. Xét nghiệm, chẩn đoán thai không nhằm mục đích điều trị.

5. Sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, nạo hút thai, phá thai, trừ trường hợp phải đình chỉ thai nghén do nguyên nhân bệnh lý của thai nhi hay của sản phụ.

6. Sử dụng dịch vụ thẩm mỹ.

7. Điều trị lé, cận thị và tật khúc xạ của mắt, trừ trường hợp trẻ em dưới 6 tuổi.

8. Sử dụng vật tư y tế thay thế bao gồm chân tay giả, mắt giả, răng giả, kính mắt, máy trợ thính, phương tiện trợ giúp vận động trong KCB và phục hồi chức năng.

9. KCB phục hồi chức năng trong trường hợp thảm họa.

10. KCB nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc chất gây nghiện khác.

11. Giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

12. Tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học.

MÂY TRẰNG (st)

Huyện Tiểu Cần: Trên 4.500 CNVCLĐ học sinh tham gia ngày chạy Olympic

Trong hai ngày 23 và 24/3/2019 huyện Tiểu Cần có trên 4.500 lực lượng là cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, CNVCLĐ, học sinh và nhân dân địa phương cùng tham gia Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2019.

Các cán bộ, công chức, viên chức của thị trấn Tiểu Cần dự lễ Ngày chạy Olympic vì sức toàn dân năm 2019.

Cách đây 73 năm, ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Nha thể thao Trung ương thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục, là cơ quan đặc trách công tác thể dục thể thao vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Người đã viết bài “Thể thao và sức khỏe” nhằm kêu gọi toàn dân luyện tập thể dục, thể thao, đồng thời định hướng cho sự hình thành và phát triển nền thể dục – thể thao non trẻ của nước nhà.

Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, trong những năm qua đã được các tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện Tiểu Cần tham gia hưởng ứng tích cực nhằm đem đến mục đích cuối cùng là giúp cơ thể khỏe mạnh, giảm nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm sau này.

Ngay sau khai mạc buổi lễ phát động, các lực lượng tham gia Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2019 của thị trấn Tiểu Cần đã chạy bộ diễu hành từ trung tâm hành chính thị trấn trên tuyến Quốc lộ 60 qua đường tránh Quốc lộ 60 với chiều dài hơn 1 km nhằm kêu gọi tất cả CNVCLĐ và mọi người cùng tham gia luyện tập thể dục, thể thao nhằm tăng cường sức khỏe để công tác, học tập và lao động sản xuất.

* Cũng trong sáng ngày 24/3/2019, tại Khu tưởng niệm Nữ anh hùng Liệt sỹ Nguyễn Thị Út (Út Tịch) thuộc ấp Ngọc Hồ, xã Tam Ngãi, Công đoàn cơ sở trường THPT Tam Ngãi phối hợp với lãnh đạo đơn vị và chính quyền địa phương tổ chức hưởng ứng Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân, với sự tham gia của 35 giáo viên và 370 lực lượng là học sinh. Thông qua hoạt động góp phần tuyên truyền vận động toàn dân tích cực “rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại.

CĐCS Trường THPT Tam Ngãi tổ chức hưởng ứng Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân.

Tin, ảnh: BÍCH HẰNG, TÁM EM

Từ 01/7/2019, tăng mức trợ cấp cho lao động nữ sinh con

Tại Nghị quyết số 70/2018/QH14 ngày 9.11.2018 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, Quốc hội giao Chính phủ thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,39 triệu đồng/tháng lên 1,49 triệu đồng/tháng từ ngày 1.7.2019, tăng mức hưởng chế độ BHXH bắt buộc với NLĐ cho phù hợp với mức lương cơ sở mới.

Cụ thể, từ ngày 01/7/2019, mức hưởng chế độ BHXH với NLĐ được thực hiện như sau: Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau một ngày bằng 447.000 đồng (mức hiện hành là 417.000 đồng).

Lao động nữ sinh con hoặc NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 2.980.000 đồng (mức hiện hành là 2.780.000 đồng); trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 2.980.000 đồng (mức hiện hành là 2.780.000 đồng) cho mỗi con.

Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật một ngày bằng 372.500 đồng (mức hiện hành là 347.500 đồng) nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình; 596.000 đồng (mức hiện hành là 556.000 đồng) nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung. 

Hoàn thành chốt sổ BHXH cho 10.142 lao động Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong nghỉ việc

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh về việc tạo điều kiện tốt nhất để người lao động của Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong sau khi nghỉ việc được hưởng các chế độ theo đúng quy định của pháp luật, BHXH tỉnh Trà Vinh đã nỗ lực hoàn thành việc in và chốt sổ cho BHXH cho người lao động của Công ty TNHH Giày da Mỹ Phong.

Người lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh.

Ban Giám đốc BHXH tỉnh đã chỉ đạo các bộ phận nghiệp vụ kịp thời hướng dẫn, giải đáp những khó khăn, vướng mắc cho người lao động cũng như lãnh đạo công ty trong thực hiện trích nộp BHXH, BHYT, BH thất nghiệp cho người lao động mất việc làm. Theo Kế hoạch, BHXH tỉnh sẽ hoàn thành việc chốt sổ BHXH cho hơn 10.000 người lao động chậm nhất đến 28/02/2019, nhưng với sự nỗ lực và quyết tâm cao, chỉ trong hai ngày thứ bảy và chủ nhật (24 và 25/02/2019), cán bộ nghiệp vụ BHXH tỉnh không ngại vất vả, tích cực hoàn thành kế hoạch trước dự kiến và đã bàn giao tờ rời cho người lao động.

Hiện tại, 10.142 công nhân của Công ty TNHH Mỹ Phong đã đủ điều kiện làm hồ sơ hưởng BH thất nghiệp theo quy định. Từ 01/03, người lao động có thể đến Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh để nộp hồ sơ đăng ký hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp hoặc được hỗ trợ tìm việc làm mới. Trong thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp, người lao động cũng sẽ được cấp thẻ BHYT để khám bệnh, chữa bệnh.

Đối với trường hợp người lao động nghỉ việc chưa tìm được việc làm mới, thiết nghĩ nên tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện để thời gian tham gia BHXH được liên tục. Thời gian tham gia BHXH là một trong hai điều kiện quan trọng để hưởng chế độ hưu trí theo quy định của Luật BHXH.

Tin, ảnh: HỒNG ĐẬM

UBND tỉnh Trà Vinh: Ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH trên địa bàn tỉnh

Ngày 28/02/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh đã ban hành Kế hoạch số 17/KH-UBND thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ và Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) trên địa bàn tỉnh.

Đông đảo CNLĐ tìm hiểu thông tin thị trường lao động. Ảnh: Hồng Đậm

Với mục đích tổ chức triển khai học tâp, quán triệt nghiêm túc, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong nhận thức và hành động của hệ thống chính trị, các đơn vị sử dụng lao động và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh trong việc thực hiệnNghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) về cải cách chính sách BHXH;Nghị quyết số 125/NQ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW; Kế hoạch 93-KH/TU ngày 17/8/2108 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) về cải cách chính sách BHXH.  

Theo đó, mục tiêu phấn đấu cụ thể được Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra là: Đến năm 2021 có khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 1% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, BHXH hàng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội (lương hưu xã hội). Đến năm 2025 có khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; khoảng 55% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, BHXH hàng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội. Đến năm 2030 có khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, BHXH hàng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội. Từ năm 2021 trở đi, tỷ lệ giao dịch điện tử đạt 100%, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan BHXH với doanh nghiệp đạt mức ASEAN 4; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia BHXH năm 2021 đạt 80%, năm 2025 đạt 85% và năm 2030 đạt 90% trở lên.

Để đạt mục tiêu cụ thể này, Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra 04 nhóm nhiệm vụ và giải pháp; yêu cầu: Các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, công tác tuyên tuyền, phổ biến chính sách pháp luật về BHXH; tăng cường sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân các cấp, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước về BHXH; nâng cao năng lực thực hiện chính sách BHXH; nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả thực hiện chính sách BHXH, bảo hiểm thất nghiệp.

Cũng tại kế hoạch này, UBND tỉnh giao nhiệm vụ cụ thể cho 7 sở, ngành liên quan như: Sở Lao động Thương binh và XH, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh, Ban quản lý Khu kinh tế và UBND các huyện, thị xã, thành phố, đồng thời đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh và các tổ chức thành viên, với vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình chủ trì, phối hợp chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp, thực hiện có hiệu quả nội dung, mục tiêu kế hoạch đề ra. Đặc biệt là giao BHXH Trà Vinh chủ trì phối hợp với các sở, ngành liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong kế hoạch; đồng thời kiện toàn, nâng cao năng lực và sắp xếp bộ máy Bảo hiểm xã hội từ tỉnh đến huyện theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII); đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên tất cả các lĩnh vực BHXH, BHTN; tiếp tục hiện đại hóa quản lý BHXH; kịp thời ngăn chặn tình trạng gian lận, trục lợi chính sách BHXH, BHTN.

Với sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh, BHXH tỉnh quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, thực hiện hiệu quả cải cách chính sách BHXH.

HỒNG ANH

SmartNews.com

footer2

Switch mode views: