• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Phát huy vai trò của Công đoàn trong thực hiện dân chủ ở cơ sở

Thực hiện tốt Quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở là tiền đề quan trọng để mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Thời gian qua, Liên đoàn Lao động tỉnh đã đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn Ban Chấp hànhCĐCS chủ động tham gia và phối hợp với chính quyền, chuyên môn đồng cấp phát huy tốt dân chủ ở cơ sở. Từ đó đã tác động tích cực trong xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch vững mạnh, doanh nghiệp phát triển bền vững.

thực hiện tốt dân chủ sẽ phát huy tốt quyền làm chủ của CNLĐ, giúp CNLĐ phát huy sáng kiến, cải tiến kỷ thuật... (ảnh: Côngg nhân Cty TNHH Woongsum Vina vận hành máy cắt vải. ảnh: Quế Thanh

 

Khi dân chủ được phát huy

QCDC ở cơ sở tại nơi làm việc được thực hiện theo Nghị định 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ (đối với cơ quan, hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập) và Nghị định 149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ (đối với doanh nghiệp).Với vai trò của mình, tổ chức công đoàn đã tham gia triển khai, phổ biến những việc mà cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC), người lao động (NLĐ) được biết, được tham gia ý kiến, được kiểm tra giám sát, được quyết định với các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong đó tập trung vào việc phối hợp với người đứng đầu cơ quan, đơn vị tổ chức Hội nghị CBCCVC; phối hợp với người sử dụng lao động (NSDLĐ)tổ chức Hội nghị NLĐ, đối thoại tại nơi làm việc.

Liên đoàn Lao động tỉnh đã chỉ đạo Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở chủ động phối hợp với chính quyền đồng cấp có văn bản chỉ đạo việc thực hiện QCDC ở cơ sở (có một số huyện thực hiện tốt việc này hàng năm), Công đoàn Viên chức tham mưu, đề xuất với Đảng ủy Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh có văn bản chỉ đạo các chi, đảng bộ trực thuộc chỉ đạo tổ chức Hội nghị CBCCVC. Kết quả, hàng năm có 100% cơ quan, đơn vị tổ chức Hội nghị CBCCVC, từ 60 đến 75% doanh nghiệp (nơi có tổ chức Công đoàn) tổ chức Hội nghị NLĐ. Trong năm, mỗi doanh nghiệp tổ chức từ 01 đến 02 cuộc đối thoại tại nơi làm việc. Thông qua các hoạt động này đã phát huy được vai trò của công đoàn trong phối hợp với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ tập thể của CBCCVC và NLĐ.

Qua theo dõi, việc tổ chức Hội nghị CBCCVC ở cơ quan, đơn vị cơ bản đi vào nề nếp vì có sự chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng (hàng năm có Đảng cấp trên đến kiểm tra - lồng ghép vào kiểm tra, đánh giá, xếp loại tổ chức cơ sở Đảng vào cuối năm); chất lượng tổ chức Hội nghị NLĐ, đối thoại định kỳ được nâng lên, đã phát huy quyền dân chủ của NLĐ khi tham gia các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, thu nhập và thực hiện các chính sách cho NLĐ. Thông qua đối thoại, NSDLĐ và NLĐ đã chia sẻ và giải quyết được những khó khăn, vướng mắc góp phần thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định hơn, hạn chế các vụ tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể xảy ra (Trà Vinh là địa phương ít xảy ra tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể trong các số tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long).

Những vấn đề cần đặt ra

Tuy đạt được nhiều kết quả nêu trên nhưng tỷ lệ tổ chức Hội nghị NLĐ, đối thoại tại nơi làm việc còn thấp, chưa đạt chất lượng như mong muốn. Hạn chế này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu vẫn còn nhiều NSDLĐ chưa nhận thức rõ việc tổ chức Hội nghị NLĐ, đối thoại là trách nhiệm của mình, xem đó là trách nhiệm của tổ chức Công đoàn; chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi về thời gian để cán bộ công đoàn tham gia các lớp tập huấn, hướng dẫn về QCDC do Công đoàn cấp trên tổ chức. Bên cạnh đó cán bộ công đoàn tại các doanh nghiệp hoạt động kiêm nhiệm, do NSDLĐ trả lương nên một số còn ngại va chạm hoặc bị NSDLĐ chi phối nên chưa mạnh dạn và thiếu chủ động phối hợp trong thực hiện QCDC ở cơ sở, tổ chức Hội nghị NLĐ và đối thoại…

Nghị định 149/2018/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, có nhiều thay đổi như: Không quy định thành phần, nội dung, quy trình, thời gian tổ chức Hội nghị NLĐ và đối thoại tại nơi làm việc mà tất cả những việc này sẽ được quy định trong QCDC ở cơ sở. Nghị định cũng quy định rất rõ, NSDLĐ có trách nhiệm ban hành QCDC ở cơ sở tại nơi làm việc. Như vậy có thể thấy, các bước cơ bản khi tổ chức hội nghị, tổ chức đối thoại được thay đổi để các doanh nghiệp linh hoạt triển khai cho phù hợp. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là giải pháp thế nào để Ban Chấp hànhCĐCS trong doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững thông qua việc phát huy quyền làm chủ của NLĐ.

Đề xuất một số giải pháp

Để phát huy tốt vai trò của tổ chức Công đoàn trong thực hiện QCDC ở cơ sở, các cấp công đoàn cần đẩy mạnh một số giải pháp cụ thể. Trong đó, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, triển khai sâu rộng trong cán bộ công đoàn, NSDLĐ, NLĐ nội dung Nghị định 149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện QCDC ở cơ sở tại nơi làm việc; Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức các lớp tập huấn cho NSDLĐ và cán bộ công đoàn trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở. Tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn Ban Chấp hànhCĐCS chủ động tham gia với NSDLĐxây dựng, thực hiện QCDC; nội dung QCDC phải thể hiện đầy đủ quyền của NLĐ được biết, được bàn, được quyết định và được kiểm tra giám sát. Tăng cường các hình thức thực hiện dân chủ khác như thông qua hệ thống thông tin nội bộ, hộp thư góp ý....

Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở cần tăng cường tư vấn, hỗ trợ CĐCS trong quá trình tổ chức đối thoại tại nơi làm việc, chú trọng đối thoại đột xuất để kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp bách của NLĐ. Tham mưu cho Ban chỉ đạo thực hiện QCDC và phối hợp chính quyền đồng cấp tăng cường kiểm tra việc thực hiện QCDC ở doanh nghiệp (Việc này, hiện nay đa số các huyện chưa thực hiện được, chỉ mới dừng lại ở việc kiểm tra lồng ghép vào kiểm tra chi, đảng bộ cuối năm mà thực tế hiện nay còn rất nhiều doanh nghiệp ngoài Nhà nước chưa có tổ chức Đảng). Cần khuyến khích, nhân rộng các giải pháp, cách làm hay của Công đoàn các cấp để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm từ đó nâng cao hơn nữa vai trò của tổ chức công đoàn trong thực hiện QCDC ở cơ sở.

MÂY TRẮNG

 

Có được đóng BHXH một lần cho 6 tháng còn thiếu để hưởng lương hưu?

Nhiều người lao động, công chức, viên chức chưa hiểu “Được đóng BHXH bắt buộc một lần cho 6 tháng còn thiếu để hưởng lương hưu” nên chọn hưởng BHXH một lần. Nếu người lao động thực sự chưa nắm rõ chính sách BHXH thì đây là một thiệt thòi lớn cho người tham gia bảo hiểm xã hội.

Người lao động được đóng BHXH bắt buộc một lần cho 6 tháng còn thiếu để hưởng lương hưu.

Ảnh Bá Thi

Theo thống kê của BHXH Việt Nam, trong những năm gần đây số người hưởng BHXH một lần bình quân khoảng 700.000 lượt người/năm, trong đó có rất nhiều người có quỹ thời gian đóng BHXH trên 17 năm, thậm chí nhiều trường hợp đủ tuổi nghỉ hưu và đã đóng BHXH đến 19 năm 6 tháng vẫn chọn hưởng BHXH một lần. Thay vì, chọn phương thức đóng BHXH bắt buộc 01 lần cho 06 tháng còn thiếu để được hưởng lương hưu theo quy định tại Khoản 6 Điều 85 Luật BHXH năm 2014 “…trường hợp người lao động đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng BHXH còn thiếu tối đa 06 tháng thì người lao động được đóng tiếp một lần cho số tháng còn thiếu với mức đóng hàng tháng bằng tổng mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo mức tiền lương tháng đóng BHXH trước khi nghỉ việc vào quỹ hưu trí và tử tuất”.

Ví dụ: Năm 2019, ông A đã đủ 60 tuổi, có đóng BHXH là 19 năm 06 tháng với mức tiền công là 5 triệu, hàng tháng mức tiền đóng của người lao động và người sử dụng lao động vào quỹ hưu trí và tử tuất là 1.100.000đ (14% của người sử dụng lao động và 8% của người lao động). Như vậy ông A chỉ cần đóng 01 lần với số tiền là 6,6 triệu để được hưởng các quyền lợi sau:

1. Nhận lương hưu với mức tiền tương đương 2,6 triệu/tháng (51% chưa có điều chỉnh trượt giá) và hưởng suốt đời.

2. Được hưởng chi phí khám chữa bệnh BHYT với mức 95%.

3. Nếu không may ông A từ trần, thân nhân được hưởng mai táng phí 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm mất (hiện tại 10 tháng lương cơ sở là 13.900.000đ) và còn được nhận trợ cấp tuất một lần hoặc tuất tháng theo điều kiện thực tế.

Qua các buổi đối thoại trực tiếp với người lao động và nhân dân, nhiều đề nghị từ người lao động là được hoàn trả số tiền đã nhận BHXH một lần để được cộng nối thời gian hưởng. Tuy nhiên vấn đề này hiện nay chưa được Luật Bảo hiểm xã hội điều chỉnh. Vì vậy người lao động nên quý thời gian đóng BHXH của mình bằng việc tích lũy thời gian đóng BHXH ngay hôm nay để được hưởng lương hưu thay vì chọn hưởng BHXH một lần rồi luyến tiếc khi đã tiêu đi hết khoảng tiền đã nhận.

HỒNG ANH

Đóng góp vào dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) là quyền lợi và trách nhiệm của người lao động

Bộ Luật Lao động (BLLĐ) có vị trí quan trọng, tác động đến tất cả các thành phần kinh tế và hàng chục triệu người lao động (NLĐ) trong cả nước. BLLĐ lần đầu được ban hành ngày 23/6/1994, đã qua các lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2002, 2006, 2007 và 2012. Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng, cùng với việc sửa đổi Hiến pháp và các luật có liên quan, sự hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của đất nước đòi hỏi BLLĐ cần được tiếp tục hoàn thiện.

Bước đầu đã có một số góp ý gởi đến Quốc hội kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2019)

Thực hiện Kế hoạch số 11/KH-ĐĐBQH ngày 11/4/2019 của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Trà Vinh, cơ quan Liên đoàn Lao động tỉnh đã tổ chức lấy ý kiến trong cán bộ, công chức về dự thảo BLLĐ (sửa đổi), các ý kiến xoay quanh một số vấn đề:

Cần bổ sung rõ các hành vi như thế nào xem là “quấy rối tình dục” vì hành vi này còn được nêu trong các điều khoản có liên quan (như quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ; hoặc liên quan đến lao động (LĐ) giúp việc gia đình).

Về quy định chấm dứt hợp đồng lao động ở nội dung “hết hạn hợp đồng LĐ”. Cần có thêm 01 quy định ràng buộc đối với trường hợp là LĐ nữ đang mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Công nhân lao động là đối tượng chịu sự tác động khi sửa đổi BLLĐ năm 2013. Ảnh: ST

Về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng LĐ của NLĐ: Thống nhất phương án 1 (NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng LĐ không nêu lý do gì mà chỉ cần thời hạn báo trước), để tạo cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn cho NLĐ và để phòng ngừa xóa bỏ LĐ cưỡng bức.

Về tiền lương làm thêm giờ: trả lương lũy tiến làm thêm giờ với mức lương cao hơn quy định ở khoản 1 điều 99 nhưng cần quy định một tỷ lệ nhất định không nên quy định “do hai bên thỏa thuận để thực hiện” vì thật ra NLĐ luôn ở thế yếu.

Về thời giờ làm thêm: Thực tế hiện nay cũng có một bộ phận NLĐ muốn tăng ca (làm thêm giờ) để có thêm thu nhập cải thiện cuộc sống nhưng nếu làm thêm nhiều giờ thì lại không đảm bảo sức khỏe, không có điều kiện học tập, giao lưu, vui chơi, giải trí, chăm sóc gia đình. Nếu tiền lương làm thêm giờ được chấp nhận điều chỉnh tăng như đóng góp ở trên thì đã phần nào tăng thu nhập cho NLĐ, do vậy Liên đoàn Lao động tỉnh thống nhất giữ nguyên như Điều 106 BLLĐ 2012 “2. Người sử dụng LĐ được sử dụng NLĐ làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: a) Được sự đồng ý của NLĐ; b) Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm; c) Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng LĐ phải bố trí để NLĐ được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ”.

Về nghỉ lễ, tết: Điểm 2 điều 113 cần bổ sung thêm NLĐ là dân tộc thiểu số ngoài nghỉ lễ, tết theo quy định khoản 1 điều này còn được nghỉ tết cổ truyền của dân tộc mình 03 ngày và được hưởng nguyên lương”. Điểm 3 chọn phương án 1 (Nếu những ngày nghỉ theo quy định tại khoản 1 Điều này trùng với ngày nghỉ hàng tuần thì NLĐ được nghỉ bù ngày nghỉ hàng tuần vào ngày làm việc kế tiếp)

Về Chương về an toàn vệ sinh lao động:cần đồng nhất với Luật An toàn, vệ sinh lao động.

Về Khoản 3, Điều 138 cần bổ sung: thêm dấu “;” vào sau từ “kết hôn”; thêm cụm từ “NLĐ đang” vào trước từ “mang thai” cho rõ nghĩa.

VềTuổi nghỉ hưu: Khoản 1 thống nhất phương án 1 nhưng Chính phủ cần có quy định thật chi tiết vì thực tế hiện nay, NLĐ ở các ngành nghề như: chế biến thủy hải sản, ngành than, công nhân vệ sinh... mặc dù vẫn được khám sức khỏe định kỳ, vẫn có các chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật... nhưng sức khỏe người lao động, đặc biệt là LĐ nữ không thể đảm bảo.

Cần tiếp tục lấy ý kiến sâu rộng trong công nhân lao động

Việc sửa đổi BLLĐ là yêu cầu cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp tới quyền lợi của NLĐ. Không ai phát hiện ra những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung một cách sát thực tế hơn chính những NLĐ vì vậy Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đề nghị các cấp công đoàn phát huy hết trách nhiệm của mình, bằng nhiều hình thức phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, ngành, doanh nghiệp tổ chức lấy ý kiến sâu rộng trong công nhân lao động góp ý vào Dự thảo BLLĐ (sửa đổi), cần tập trung các nhóm nội dung cơ bản như: (1) Về hợp đồng LĐ và mở rộng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng LĐ của NLĐ; (2) Về Mở rộng khung thỏa thuận về thời giờ làm thêm tối đa; (3) Về Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu; (4) Về Tiền lương; (5) Về Tổ chức đại diện của NLĐ tại cơ sở; (6) Về Thương lượng tập thể; thỏa ước LĐ tập thể; (7) Về Tranh chấp LĐ tập thể và đình công; (8) Về Một số nội dung đối với LĐ nữ và đảm bảo bình đẳng giới; (9) Về thời gian nghỉ tết âm lịch và bổ sung 01 ngày nghỉ (ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 dương lịch).

Chúng ta hãy luôn kỳ vọng rằng: “Cơ quan soạn thảo Dự thảo BLLĐ sẽ lắng nghe và tiếp thu những đóng góp sâu sắc từ chính những người được BLLĐ điều chỉnh để việc sửa đổi lần này không làm suy giảm hoặc mất đi các quyền lợi của NLĐ đã được pháp luật khẳng định trong thực tiễn thi hành vì NLĐ luôn ở thế yếu”.

MÂY TRẮNG

Hãy hành động ngay từ hôm nay: “Tăng cường đánh giá, quản lý các nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc”

Từ năm 2013 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh xảy ra 30 vụ tai nạn lao động làm chết 33 người, bị thương nặng 08 người. Cứ đúng vào dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5; thời gian diễn ra Tuần lễ Quốc gia và Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ), Liên đoàn Lao động tỉnh đều tổ chức đoàn đến thăm hỏi, động viên, tặng quà cho CNVCLĐ và thân nhân người lao động bị tai nạn lao động chết người. Từ năm 2013 đến năm 2019 đã thăm hỏi trên 170 lượt người với tổng số tiền khoảng 90 triệu đồng.

Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh đến động viên, thăm hỏi gia đình. Ảnh: Minh Thiện

Tai nạn lao động - những hệ lụy

Khi Đoàn công tác đến thăm gia đình 04 công nhân bị ngạt khí khi thực hiện bơm, hút nước để vệ sinh bùn bên trong hố thu nước tại trạm bơm nước thô của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải, mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau nhưng đều đọng lại trong mỗi chúng tôi niềm xót thương và sự sẻ chia khi “người đầu bạc phải khóc tiễn kẻ đầu xanh”.

“Gia đình tôi có một đứa con trai duy nhất, năm nay nó 28 tuổi, nó vào công ty làm việc được hơn 03 năm, khi tôi hỏi “làm công việc ổn không con”, nó trả lời “ổn cha à”, vậy mà nó “đành bỏ” tôi và mẹ nó vĩnh viễn ra đi”, lời tâm sự nghe xót xa và thương cảm của người cha gần 70 tuổi - ông Kim Tiên, cha của Kim Minh Thuận.

Mẹ anh Nguyễn Văn Quý rưng rưng nước mắt nói với chúng tôi “Các cô, chú đến thăm và động viên gia đình, chúng tôi rất cảm ơn, trước đây hai vợ chồng tôi sống chung với vợ chồng nó, giờ con tôi mất rồi tôi rất mong các cô, chú khi vào dịp lễ, tết đến thăm hoặc điện thoại thăm hỏi để gia đình chúng tôi cảm thấy ấm lòng”, lời của người mẹ ngoài 60 tuổi rất có ý nghĩa, đó là việc mà tôi thiết nghĩ tổ chức công đoàn, lãnh đạo doanh nghiệp cần phải quan tâm.    

Khi người lao động bị tai nạn lao động không chỉ mang lại nỗi buồn lo cho bản thân và gia đình người lao động mà doanh nghiệp cũng phải gánh chịu rất nhiều chi phí cũng như trách nhiệm: chi phí y tế, trợ cấp hoặc bồi thường, thăm hỏi động viên gia đình…và đặc biệt là các đối tác sẽ đánh giá thế nào khi doanh nghiệp để xảy ra những vụ tai nạn lao động như vậy?

Tai nạn lao động có thể phòng tránh được

Thực trạng hiện nay cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp có sự chuyển biến rõ nét trong công tác an toàn, vệ sinh lao động như đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, áp dụng nhiều công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động thì vẫn có một số doanh nghiệp điều kiện lao động vẫn còn tồn tại những nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động, trong khi đó người sử dụng lao động và người lao động chưa có nhiều kỹ năng, chưa có kiến thức đầy đủ trong việc đánh giá, nhận diện các nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động dẫn đến nhiều vụ tai nạn lao động thương tâm chính vì thế tăng cường đánh giá, quản lý các nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc là hoạt động phòng ngừa rất bức thiết và đây cũng chính là chủ đề hoạt động của Tháng hành động về ATVSLĐ năm 2019.

Chủ đề hoạt động của Tháng hành động về ATVSLĐ năm 2019 nhằm góp phần thực hiện tốt tiêu chí “phấn đấu giảm số vụ và số người bị tai nạn lao động so với các tháng khác trong năm ít nhất 10%”. Muốn làm được điều này, tôi nghĩ cần có sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, riêng đối với tổ chức công đoàn, Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh đã chỉ đạo các cấp công đoàn chủ động hoặc tham gia thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, tuyên truyền, vận động người lao động thực hiện tốt các quy định của pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, biện pháp bảo đảm ATVSLĐ tại nơi làm việc; thông qua các cuộc họp hoặc loa nội bộ tuyên truyền để người lao động nắm rõ, hiểu và đảm bảo thực hiện tốt công tác ATVSLĐ. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền như tọa đàm, tổ chức hoặc tham gia hội thi an toàn vệ sinh viên giỏi; cấp phát tài liệu, tờ rơi, tranh áp phích và luôn có các khẩu hiệu tại nơi làm việc như: “Tuân thủ nội qui, qui trình, biện pháp làm việc an toàn để bảo vệ chính mình, đồng nghiệp và gia đình”; “Cải thiện điều kiện làm việc vì an toàn, sức khỏe và tính mạng của người lao động”; “Chung tay xây dựng văn hóa an toàn tại nơi làm việc”; “An toàn để sản xuất, sản xuất phải đảm bảo an toàn”.

Thứ hai, từ đầu năm, BCH CĐCSphối hợp với chuyên môn tổ chức các phong trào thi đua sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phong trào “Xanh - Sạch - Đẹp, Đảm bảo ATVSLĐ” và xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc qua đó thúc đẩy sự tham gia của người sử dụng lao độngvà người lao động trong việc bảo đảm ATVSLĐ. Nhân dịp Tháng hành động về ATVSLĐ hoặc cuối năm biểu dương, khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng cho người lao động có các sáng kiến, giải pháp cải tiến kỹ thuật, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao năng suất lao động và đảm bảo ATVSLĐ.

Thứ ba, Đẩy mạnh việc phát triển về số lượng đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên ở các cơ sở sản xuất. Tổ chức tập huấn kiến thức về ATVSLĐ và kỹ năng, phương pháp hoạt động cho mạng lưới an toàn vệ sinh viên hoặc phân công cán bộ tích cực tham gia các lớp tập huấn do các ban ngành hữu quan tổ chức.

Thứ tư, BCH CĐCStrong doanh nghiệp chủ động tham gia với người sử dụng lao độngtổ chức tư vấn, tập huấn, huấn luyện, khám sức khỏe, khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

Thứ năm, Thực hiện công tác giám sát và phối hợp với các cơ quan chức năng tập trung vào thanh tra, kiểm tra, giám sát việc xây dựng các nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm ATVSLĐ; việc đánh giá các nguy cơ rủi ro về ATVSLĐ tại nơi làm việc; công tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, kiểm định máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ.

Thực hiện tốt công tác ATVSLĐ góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại nơi làm việc, đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà đặc biệt là bảo vệ sức khỏe người lao động chính là góp phần bảo vệ nguồn nhân lực của đất nước.

MÂY TRẮNG

KHỞI KIỆN ĐÒI KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN

Pháp luật hiện hành quy định doanh nghiệp (DN) có hay không có CĐCS đều phải đóng kinh phí Công đoàn (CĐ) bằng 2% tổng số tiền lương đóng BHXH cho người lao động (NLĐ). Khoản tiền này các cấp CĐ sẽ dùng để chăm lo cho NLĐ và duy trì hoạt động. Thực tế, nhiều DN cố tình “phớt lờ”, hoặc trây ỳ, nợ, khiến việc CĐ chăm lo cho NLĐ gặp khó khăn. Không “bó tay” với sự trây ỳ của DN, Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) huyện Bình Chánh (TPHCM), đã khởi kiện để đòi kinh phí CĐ và thu được nhiều thành quả.

Có căn cứ pháp luật vững chắc

LĐLĐ huyện Bình Chánh hiện quản lý 620 CĐCS, trong đó có 480 CĐCS khu vực ngoài nhà nước với gần 23.000 đoàn viên/28.000 NLĐ. Hầu hết các DN trên địa bàn huyện đã đóng kinh phí CĐ đầy đủ theo đúng quy định, từ đó LĐLĐ huyện cấp lại kinh phí cho các CĐCS để hoạt động chủ yếu là chăm lo cho đoàn viên, NLĐ. Mặc dù đã được tuyên truyền, phổ biến nhiều, nhưng vẫn còn một số DN chưa tự giác chấp hành pháp luật, chưa đóng hoặc đóng không đủ kinh phí CĐ dẫn đến việc LĐLĐ huyện chưa có kinh phí để cấp lại cho CĐCS hoạt động và chăm lo cho NLĐ. Trước tình hình đó, LĐLĐ huyện quyết định phải khởi kiện để đòi kinh phí CĐ.

Kinh phí CĐ là nguồn quan trọng để CĐ chăm lo cho NLĐ (ảnh: Công đoàn Khu Kinh tế tặng quà cho đoàn viên, NLĐ có hoàn cảnh khó khăn).

Ông Nguyễn Hữu Chí - Chủ tịch LĐLĐ huyện Bình Chánh - nhớ lại: “Lúc đầu, cũng còn nhiều ý kiến lo ngại như có cơ sở pháp lý để kiện không? Kiện có ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của địa phương? Đụng chạm với DN thì hoạt động CĐ sẽ gặp khó khăn…”. Để trả lời những câu hỏi này, LĐLĐ huyện đã nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật, qua đó thấy Khoản 3, Điều 30 Luật Công đoàn 2012 quy định: “Tranh chấp liên quan đến việc không thực hiện hoặc từ chối thực hiện trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động đối với CĐ thì CĐCS hoặc CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật”. Có được cơ sở pháp luật vững chắc, LĐLĐ huyện đã báo cáo với Ban Thường vụ Huyện ủy để phối hợp với các ngành chức năng để chuẩn bị khởi kiện. “Thật vui khi Ban Thường vụ Huyện ủy và các ngành chức năng ở huyện đều ủng hộ chủ trương này. Chính điều đó là động lực lớn để chúng tôi bắt tay vào việc khởi kiện đòi kinh phí CĐ” - ông Chí hào hứng kể.

Không đóng kinh phí CĐ, DN “thiệt đơn thiệt kép”

Để có căn cứ khởi kiện, LĐLĐ huyện Bình Chánh đã làm việc với cơ quan BHXH để xác minh số tiền đóng BHXH của DN cho NLĐ. Sau đó, LĐLĐ huyện sẽ 2 lần gửi thư mời DN đến trao đổi, đề nghị đóng kinh phí CĐ theo đúng quy định. “Không phải dễ dàng, có DN đến chất vấn lại chúng tôi thu kinh phí CĐ rồi dùng để làm gì? Lại có DN thì thách thức… Chúng tôi kiên trì giải thích cho DN quy định của pháp luật và việc sử dụng tài chính CĐ theo hướng dẫn của Tổng LĐLĐVN, LĐLĐ TPHCM là chủ yếu để chăm lo cho NLĐ. Thế nhưng vẫn có nhiều DN không chịu nộp kinh phí CĐ. Đến lúc đó, chúng tôi đành phải đưa vụ việc ra tòa theo đúng quy định” - ông Chí kể.

Từ năm 2017 đến nay, LĐLĐ huyện Bình Chánh đã khởi kiện 25 DN nợ kinh phí CĐ. Điều đáng mừng, qua hòa giải tại tòa trước khi xét xử, đã có 19 DN đóng kinh phí CĐ với số tiền gần 5,67 tỉ đồng. Có được số tiền này, LĐLĐ huyện Bình Chánh có thêm nguồn lực để chăm lo cho NLĐ. Số còn lại, các DN đã có văn bản gửi LĐLĐ huyện cam kết lộ trình thực hiện đóng kinh phí CĐ. Hiện TAND huyện còn đang thụ lý đơn kiện 6 DN nợ hơn 1,7 tỉ đồng.

Luật sư Nguyễn Hữu Học (Đoàn Luật sư TPHCM) phân tích: DN nên nộp kinh phí CĐ đầy đủ. Bởi lẽ, nếu chậm nộp, DN có thể xử phạt từ 12% đến 20% tổng số tiền phải đóng tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng, tùy việc chậm đóng, đóng không đúng mức, đóng không đủ hay không đóng. Ngoài ra, DN còn phải trả thêm tiền lãi (với lãi suất không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại) tính trên số tiền kinh phí CĐ chưa đóng, chậm đóng. Chưa kể, danh tính của DN nợ, trây ỳ kinh phí CĐ có thể bị bêu ra trước công luận, ảnh hưởng đến uy tín, như vậy, DN sẽ thiệt đơn, thiệt kép.

BAN MAI (Theo Lao động)

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN

Đ/c Lê Thị Thu Hảo, Phó Giám đốc BHXH tỉnh Trà Vinh trả lời ý kiến của NLĐ trong buổi gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với công nhân lao động.

A. BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8, có hiệu lực thực hiện kể từ 01/01/2016. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có nhiều quy định mới, mục đích hướng tới việc mở rộng đối tượng tham gia, cả trong bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm góp phần tăng nhanh diện bao phủ bảo hiểm xã hội theo mục tiêu đã được đề ra tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động số 25-CTr/TU ngày 18/01/2013 của Tỉnh ủy.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của bản thân để được hưởng các chế độ theo quy định. Đây là một trong những chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa rất sâu sắc, giúp đảm bảo cuộc sống ổn định khi về già cho người lao động tự do, người dân ở các khu vực nông thôn.

Cán bộ, đảng viên đang công tác tại các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh, khi gia đình có người thân là những người lao động kinh doanh tự do, người làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, muốn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, cần lưu ý những quy định mới về chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đây:

1. Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 không khống chế tuổi trần tham gia như trước đây, quy định “Mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, nếu không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đều có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện”.

2. Quy định hạ mức sàn thu nhập tối thiểu đóng BHXH tự nguyện bằng chuẩn hộ nghèo ở khu vực nông thôn (hiện nay là 700.000 đồng) để phù hợp với khả năng tham gia của người dân; khác với trước đây quy định mức sàn thu nhập là mức lương cơ sở. Do vậy, với tỷ lệ đóng là 22%, người tham gia sẽ phải đóng với mức thấp nhất là 154.000đồng/tháng. Cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở (hiện nay 1.390.000đ x 20 = 27.800.000đ.)

3. Quy định phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện một cách linh hoạt hơn, ngoài phương thức đóng theo tháng, quý, 6 tháng hoặc năm, người tham gia còn có thể đóng một lần cho nhiều năm về sau (không quá 5 năm), và đóng một lần cho những năm còn thiếu (không quá 10 năm đối với trường hợp đủ tuổi nghỉ hưu nhưng còn thiếu tối đa không quá 10 năm để được 20 năm hưởng lương hưu) .

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A, 60 tuổi, đã tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được 15 năm 09 tháng, còn thiếu 4 năm 3 tháng mới đủ 20 năm. Như vậy, ông có thể đóng một lần cho số năm còn thiếu để đủ 20 năm tham gia bảo hiểm xã hội nhằm đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng theo quy định và được hưởng lương hưu ngay sau tháng đóng đủ, được cấp thẻ BHYT sau khi nghỉ hưu với mức hưởng chi phí khám, chữa bệnh là 95%.

4. Kể từ 01/01/2018 trở đi, khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ người tham gia: hỗ trợ 30% mức đóng đối với người thuộc hộ nghèo, 25% mức đóng đối với người thuộc hộ cận nghèo và 10% mức đóng đối với các đối tượng khác.

5. Người dân khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ có lợi về nhiều mặt, đó là: khi đủ điều kiện về tuổi đời (55 đối với nữ và 60 đối với nam), đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 trở lên thì được hưởng lương hưu theo quy định;

(Từ 55% đến 75% tùy theo nam, nữ và số năm đóng BHXH) khi nghỉ hưu được cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế và được hưởng quyền lợi khám, chữa bệnh BHYT là 95% khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến; thân nhân được hưởng chế độ tử tuất nếu đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc hưu tri mà chết. Trường hợp đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mà có yêu cầu thì được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục tham gia BHXH;

+ Ra nước ngoài để định cư;

+ Bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan, cổ chướng, phong lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS hoặc những bệnh khác mà tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

+ Sau một năm không tiếp tục đóng BHXH mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH. 

Mức hưởng trợ cấp tuất hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau: 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước 2014; 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ 2014 trở đi.

B. BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN

I. HỘ GIA ĐÌNH THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ

Hộ gia đình tham gia BHYT là toàn bộ những người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú, trừ đối tượng đã tham gia tại các nhóm khác (nhóm do người lao độngngười sử dụng lao động; tổ chức BHXH và ngân sách Nhà nước đóng, hỗ trợ mức đóng, do người sử dụng lao động đóng) và người đã khai báo tạm vắng.

II. MỨC ĐÓNG, PHƯƠNG THỨC ĐÓNG BẢO HIỂM Y TẾ

1. Mức đóng bảo hiểm y tế

Mức đóng BHYT hàng tháng của người tham gia BHYT hộ gia đình là 4,5% mức lương cơ sở.

Việc giảm trừ mức đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình được thực hiện khi các thành viên tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính, từ thành viên thứ hai trở đi được giảm cụ thể như sau:

+ Người thứ nhất đóng 4,5% mức lương cơ sở (tại thời điểm là: 1.390.000 đồng).

+ Người thứ hai, thứ ba và thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60% và 50% mức đóng của người thứ nhất;

+ Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất.

Ví dụ: Một gia đình có 5 người tham gia BHYT hộ gia đình, với mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2018 là 1.390.000 đồng thì mức đóng BHYT của hộ gia đình như sau:

Mức đóng của người thứ 1:

1.390.000 x 4,5% x 12 tháng = 750.600đ/ năm;

Người thứ 2: 750.600đ x 70% = 525.420đ/ năm;

Người thứ 3: 750.600đ x 60%   = 450.360đ/ năm;

Người thứ 4: 750.600đ x 50%   = 375.300đ/ năm;

Người thứ 5 trở đi: 750.600đ x 40% = 300.240đ/ năm.

Hộ gia đình 5 người đóng là 2.401.920 đ

2. Phương thức đóng bảo hiểm y tế

Định kỳ 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng, đại diện hộ gia đình, cá nhân đóng đủ số tiền thuộc trách nhiệm phải đóng vào quỹ BHYT.

Lưu ý:

+ Người mới tham gia BHYT lần đầu thẻ BHYT có giá trị sử dụng sau 30 ngày tính từ ngày nộp tiền cho cơ quan BHXH

+ Người tham gia liên tục (thời gian cách quản không quá 03 tháng) thẻ BHYT có giá trị sử dụng ngay khi nộp tiền cho cơ quan BHXH

III. MỨC HƯỞNG, THỦ TỤC KCB BHYT

1. Mức hưởng bảo hiểm y tế

1.1. Khám chữa bệnh đúng tuyến

a. Người tham gia BHYT theo hộ gia đình có mức hưởng BHYT là 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

b.Ngoài ra còn được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh khi:

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở là 208.500đ.

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã.

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí KCB trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở (8.340.000đ), trừ trường hợp tự đi KCB không đúng tuyến.

1.2. Khám chữa bệnh không đúng tuyến:

Trình thẻ BHYT ngay khi đến KCB được quỹ BHYT thanh toán chi phí trong phạm vi được hưởng BHYT trên mức hưởng theo tỷ lệ như sau:

a. Tại bệnh viện tuyến Trung ương: 40% chi phí điều trị nội trú nhân cho mức hưởng;

b. Tại bệnh viện tuyến tỉnh: 60% chi phí điều trị nội trú nhân cho mức hưởng từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01/01/2021 trong phạm vi cả nước;

c. Tại bệnh viện tuyến huyện: 100% chi phí KCB nhân cho mức hưởng (được thông tuyến huyện từ ngày 01/01/2016 trở đi) cụ thể như:

+ Người tham gia BHYT đăng ký KCB ban đầu tại trạm y tế tuyến xã, phòng khám đa khoa, bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện tuyến tỉnh được quyền KCB BHYT tại trạm y tế tuyến xã, phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh được hưởng 100% chi phí nhân cho mức hưởng.

+ Người tham gia BHYT đăng KCB ban đầu tại trạm y tế tuyến xã, phòng khám đa khoa, bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện tuyến tỉnh được quyền KCB BHYT tại bệnh viện tuyến huyện ngoài tỉnh và ngược lại được hưởng 100% chi phí nhân cho mức hưởng.

1.3. Mức thanh toán trực tiếp

Trường hợp người bệnh KCB tại cơ sở KCB không ký hợp đồng KCB BHYT mức thanh toán cụ thể như sau:

+ Tuyến huyện và tương đương: Thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng nhưng không quá 0,15 lần mức lương cơ sở (208.500đ) đối với KCB ngoại trú, 0,5 lần mức lương cơ sở (695.000đ) đối với KCB nội trú.

+ Tuyến tỉnh và tương đương (trừ trường hợp cấp cứu): Thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng nhưng không quá 1,0 lần mức lương cơ sở (1.390.000đ) khi KCB nội trú tại thời điểm ra viện.

+ Tuyến trung ương và tương đương (trừ trường hợp cấp cứu): Thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng nhưng không quá 2,5 lần mức lương cơ sở (3.475.000đ) khi KCB nội trú tại thời điểm ra viện.

* Trường hợp KCB tại nơi đăng ký KCB ban đầu không đúng quy định (trình không đúng thủ tục “thẻ BHYT sai thông tin với giấy tờ tùy thân và ngược lại, trình thiếu thủ tục chỉ có thẻ BHYT không có giấy tờ tùy thân và ngược lại…”): Thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng nhưng không quá 0,15 lần mức lương cơ sở (208.500đ) khi KCB ngoại trú, 0.5 lần mức lương cơ sở (695.000đ) khi KCB nội trú tại thời điểm ra viện.

2. Phạm vi được hưởng:

Người tham gia BHYT đi khám bệnh, chữa bệnh được quỹ BHYT chi trả các chi phí gồm 5 nội dung sau:

- Chi phí khám bệnh, chi phí ngày giường theo mức giá được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Chi phí các dịch vụ kỹ thuật trong phạm vi chuyên môn (XN, chẩn đoán hình ảnh, thủ thuật, phẩu thuật) theo danh mục và mức giá đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đúng quy định.

- Chi phí thuốc, hóa chất, vật tư y tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh theo danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán do Bộ Y tế quy định

- Chi phí máu và các chế phẩm của máu theo quy định của Bộ Y tế quy định giá tối đa và chi phí phục vụ cho việc xác định giá một đơn vị máu toàn phần, chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn.

3. Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

- Người tham gia BHYT khi đến KCB phải xuất trình thẻ BHYT có ảnh; trường hợp thẻ BHYT chưa có ảnh thì phải xuất trình một loại giấy tờ chứng minh về nhân thân của người đó.

- Trường hợp chuyển tuyến KCB, người tham gia BHYT phải xuất trình thêm giấy chuyển tuyến theo quy định của Chính phủ

+ Trường hợp người có thẻ BHYT mắc 62 bệnh, nhóm bệnh và các trường hợp quy định tại phụ lục kèm theo Thông tư 40/2015/ BYT thì giấy chuyển tuyến có giá trị sử dụng đến hết năm dương lịch (ngày 31/12 năm đó).

+ Trường hợp giấy chuyển tuyến có giá trị đến hết ngày 31/12 nhưng đợt điều trị chưa kết thúc thì được sử dụng giấy chuyển tuyến đó đến hết đợt điều trị.

- Người tham gia BHYT đến khám lại theo yêu cầu điều trị, phải xuất trình các giấy tờ quy định.

- Trường hợp cấp cứu, người tham gia BHYT phải xuất trình các giấy tờ quy định (tại ý1 hoặc ý2) trước khi ra viện để được hưởng quyền lợi như trường hợp KCB đúng tuyến.

- Xuất trình thêm Giấy chứng nhận không cùng chi trả trong năm theo mẫu số 05/BHYT để được miễn phần cùng chi trả trong năm khi KCB đúng tuyến.

IV. CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG BHYT

1. Chi phí trong phạm vi BHYT thanh toán đã được ngân sách Nhà nước chi trả.

2. Điều dưỡng, an dưỡng tại cơ sở điều dưỡng, an dưỡng.

3. Khám sức khỏe.4. Xét nghiệm, chẩn đoán thai không nhằm mục đích điều trị.

5. Sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, nạo hút thai, phá thai, trừ trường hợp phải đình chỉ thai nghén do nguyên nhân bệnh lý của thai nhi hay của sản phụ.

6. Sử dụng dịch vụ thẩm mỹ.

7. Điều trị lé, cận thị và tật khúc xạ của mắt, trừ trường hợp trẻ em dưới 6 tuổi.

8. Sử dụng vật tư y tế thay thế bao gồm chân tay giả, mắt giả, răng giả, kính mắt, máy trợ thính, phương tiện trợ giúp vận động trong KCB và phục hồi chức năng.

9. KCB phục hồi chức năng trong trường hợp thảm họa.

10. KCB nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc chất gây nghiện khác.

11. Giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

12. Tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học.

MÂY TRẰNG (st)

Huyện Tiểu Cần: Trên 4.500 CNVCLĐ học sinh tham gia ngày chạy Olympic

Trong hai ngày 23 và 24/3/2019 huyện Tiểu Cần có trên 4.500 lực lượng là cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, CNVCLĐ, học sinh và nhân dân địa phương cùng tham gia Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2019.

Các cán bộ, công chức, viên chức của thị trấn Tiểu Cần dự lễ Ngày chạy Olympic vì sức toàn dân năm 2019.

Cách đây 73 năm, ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Nha thể thao Trung ương thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục, là cơ quan đặc trách công tác thể dục thể thao vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Người đã viết bài “Thể thao và sức khỏe” nhằm kêu gọi toàn dân luyện tập thể dục, thể thao, đồng thời định hướng cho sự hình thành và phát triển nền thể dục – thể thao non trẻ của nước nhà.

Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, trong những năm qua đã được các tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện Tiểu Cần tham gia hưởng ứng tích cực nhằm đem đến mục đích cuối cùng là giúp cơ thể khỏe mạnh, giảm nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm sau này.

Ngay sau khai mạc buổi lễ phát động, các lực lượng tham gia Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2019 của thị trấn Tiểu Cần đã chạy bộ diễu hành từ trung tâm hành chính thị trấn trên tuyến Quốc lộ 60 qua đường tránh Quốc lộ 60 với chiều dài hơn 1 km nhằm kêu gọi tất cả CNVCLĐ và mọi người cùng tham gia luyện tập thể dục, thể thao nhằm tăng cường sức khỏe để công tác, học tập và lao động sản xuất.

* Cũng trong sáng ngày 24/3/2019, tại Khu tưởng niệm Nữ anh hùng Liệt sỹ Nguyễn Thị Út (Út Tịch) thuộc ấp Ngọc Hồ, xã Tam Ngãi, Công đoàn cơ sở trường THPT Tam Ngãi phối hợp với lãnh đạo đơn vị và chính quyền địa phương tổ chức hưởng ứng Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân, với sự tham gia của 35 giáo viên và 370 lực lượng là học sinh. Thông qua hoạt động góp phần tuyên truyền vận động toàn dân tích cực “rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại.

CĐCS Trường THPT Tam Ngãi tổ chức hưởng ứng Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân.

Tin, ảnh: BÍCH HẰNG, TÁM EM

SmartNews.com

footer2

Switch mode views: